Trang chính » Phật Quốc Online »

Bài học từ Quán Nhĩ Căn Viên Thông của Bồ tát Quán Thế Âm

Tác giả : Phúc Hiển

Đại hồng chung, ảnh Hiền Tâm

Đề bài: “Qua pháp môn tu chứng của các vị Bồ-tát, Thanh-văn trong kinh Lăng nghiêm đã học, bạn tâm đắc vị nào nhất, tại sao?”

Bài làm:

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Từ những lời ân cần đầu tiên, khuyên con phát từ bi tâm, vị ân sư đã đánh thức con người thật, nội tâm sâu lắng của con.

Trong con ngày ngày vẫn còn văng vẳng đâu đây tiếng nói của thầy, cái nghe, biết ấy mãi thường còn dù thanh trần đã dời xa con lâu lắm rồi. Cứ theo suy nghĩ của con, trong các pháp môn tu chứng của chư vị Bồ-tát, Thanh-văn thì pháp môn viên thông nhĩ căn của Bồ-tát Quán thế âm là bậc nhất.

Kinh văn nói:

“Lúc bấy giờ Bồ tát Quán Thế Âm liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát dưới chân đức Phật, rồi bạch Phật rằng:

Bạch đức Thế Tôn, con nhớ vào thời quá khứ hằng hà sa kiếp, lúc ấy có đức Phật xuất hiện ở đời, danh hiệu là Quán Thế Âm. Con ở trước đức Phật đó phát tâm bồ đề. Ngài dạy con từ nghe, tư duy, tu tập thể nhập chánh định.

Ban đầu, con ở trong tánh nghe vào được dòng viên thông thì không còn trạng thái sở văn nữa, tướng sở nhập cũng vắng lặng, hai trạng thái động tĩnh rõ ràng chẳng còn sanh. Trạng thái như vậy tăng dần, các tướng năng văn, sở văn đều dứt sạch.

Không dừng trụ trong chỗ dứt sạch năng văn, sở văn, con đạt đến năng giác sở giác đều vắng lặng. Không giác viên mãn tột bậc thì các tướng năng không và sở không đều tịch diệt. Sinh diệt đã diệt thì bản tính tịch diệt hiện tiền.

Bỗng nhiên con vượt ra ngoài thế gian và xuất thế gian, khắp mười phương một thể sáng suốt viên mãn hiển bày, và con đạt được hai cảnh giới thù thắng.

Một là, trên hợp với bổn diệu giác tâm của mười phương chư Phật và cùng Phật Như Lai đồng một từ lực.

Hai là, dưới hợp với tất cả chúng sinh trong lục đạo khắp mười phương và cùng với chúng sinh đồng một bi ngưỡng.”

Tánh nghe của chúng sinh là một diệu tính lạ kỳ. Từ lâu con thắc mắc, tại sao các cây cối trồng hai bên đường, cây nào cũng ngã ra phía lòng đường mà không phải là phía ngược lại (sau này thì con biết là do lòng đường nhiều xe cộ đi lại, có nhiều âm thanh). Rồi có một cây dâu da soan trồng giữa nhà người bạn con và nhà một người hàng xóm, cái cây đó ngã về phía nhà bạn con chứ không ngã về phía nhà kia. Khi con tìm hiểu và biết rằng, nhà người bạn con luôn luôn có những tiếng nói cười vui vẻ, gia đình thuận hòa, chan chứa tình thương. Còn nhà hàng xóm kia mỗi người đều lặng lẽ, ra vào như những chiếc bóng, gia đình thì nhiều người ốm đau bệnh tật, nếp nhà âm u. Những loài tưởng như vô tình ấy sao lại hướng về nơi có nhiều âm thanh, sống động, và tránh né nơi u tịch. Rồi khi khoa học phát triển, ngày nay trên thế giới họ cho cây cối và hoa cỏ nghe tiếng nhạc không lời để thúc đẩy sự phát triển. Vậy là cây cối cũng biết nghe. Một con vật, dù không có trí thông minh, nhưng vẫn biết nghe ngóng, vẫn hiểu ý nghĩa của âm thanh. Một con người, nghe hàng nghìn thứ âm thanh vào tai, giữa các âm thanh hỗn độn ấy vẫn phân biệt được đâu là tiếng của thứ gì và phát ra từ đâu. Nghe một tiếng nói của một người, đến khi người đó đi xa, sau nhiều năm gặp lại, hoặc chỉ nghe qua điện thoại, vẫn nhận ra nhau. Từ đó thấy rằng, sự nghe, biết ta cứ tưởng là thứ độc quyền của con người và các con vật có cơ quan thụ cảm âm thanh, đâu biết rằng ngay cả các loài tưởng như vô tri giác mà cũng có tính nghe hay biết làm vậy.

Cũng trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật đã từng bảo ngài La Hầu La đánh những tiếng chuông để nhân đó Phật dạy các chúng đệ tử nhận rõ đâu là tính nghe thường hằng và tính nghe phân biệt do vọng chấp đảo điên mà thành.

Nay ngài Quán thế Âm Bồ-tát được pháp môn viên thông nhĩ căn, ngài an trú trong tánh nghe thường hằng, dứt sạch năng văn, sở văn. Không chỉ thế ngài còn đạt tới năng giác, sở giác đều vắng lặng.

Nghe đến đây chúng con mới giật mình thảng thốt. Bao lâu rồi, chúng con điên đảo chấp trước theo năng văn, sở nhập. Vạn điều tai ương, muôn điều phiền toái theo cái sự phân biệt động tĩnh ấy mà duyên hợp thành bể khổ, sông mê trùng trùng sóng dữ. Ví như làm được việc cỏn con nọ, đã mong được tán dương khen ngợi. Nếu bị quở phạt chút xíu thôi chắc phải thối thất tâm bồ đề. Người có chút định lực thì có thể nhẫn nại chịu đựng được người khác mắng chửi, nhưng vẫn cần có điều kiện gì mà kham nhận thế thôi. Người ưu việt hơn thì tai không nhập những lời khen ngợi của người khác. Nhưng có đạt đến mức nào đi chăng nữa cũng thấy hiển hiện cái giác tính nhận diện phải trái và đúng sai. Còn thấy phải trái và đúng sai tâm chúng con còn loạn động, còn chìm ngụp trong lục đạo luân hồi, chẳng được một niệm thảnh thơi và yên ổn.

Tánh nghe biết viên thông không ngằn mé, từ quá khứ, hiện tại, vị lai. Tánh nghe trải khắp mười phương, châu biến khắp pháp giới, chẳng có phân biệt ngăn ngại hay thông bít. Hai mươi bốn pháp môn viên thông phía trước, đều cần có duyên hợp để thành, ví như đôi mắt mà bị ngăn trở bởi sắc trần thì đâu còn viên thông được nữa, nếu duyên theo cảnh trần thì còn là tên giặc tội đồ cho tâm sinh diệt hiện ra. Cho đến cái xúc chạm, và ngửi, nếm cũng đều là như vậy.

Ngài Quán Thế Âm Bồ-tát, tu đạt hai cảnh giới thù thắng.

Một là, trên khế hợp với giác tâm mười phương chư phật chính là đồng một từ lực với Phật Như Lai.

Hai là, dưới hợp với lục đạo chúng sinh ở khắp mười phương cũng là đồng với chúng sinh một bi ngưỡng.

Đến đây con lại thấy Bồ-tát Quán thế âm có một lòng đại bi không thể nghĩ bàn. Cũng là cách nói khác về sự thù thắng của bậc thượng thủ Bồ-tát, một vị tối thắng tâm Phật chứ không phải thông thường. Đó là tâm của Bồ-tát châu biến khắp pháp giới, tâm của Phật cũng châu biến khắp pháp giới, ở đó sự hòa quyện và khế hợp giữa tâm bồ-tát và tâm Phật là đương nhiên. Còn như với chúng sinh lục đạo, Bồ-tát vẫn có sự hòa hợp đủ thấy tâm vô lượng từ bi của ngài. Ví như một giao động sóng âm thanh, lúc ta nghe rất to, lúc lại rất nhỏ. Đó là tác dụng của sự cộng hưởng sóng âm. Nếu hai sóng cùng tần số tự nhiên sự cộng hưởng xuất sinh. Cũng như thế, Bồ-tát ở bậc thành tựu như vậy, mà ngài vì lòng từ bi phát nguyện đạt tối thắng pháp đồng với chúng sinh không khác để dẫn dắt cứu độ cho mỗi mỗi chúng sinh với nhiều căn cơ, tâm lượng khác nhau. Bồ-tát Quán thế âm gần gũi thấu hiểu chúng sinh, chia sẻ, giúp đỡ, dìu dắt chúng sinh đó thoát khỏi khổ đau của cuộc sống thì thân tâm người này an lạc biết bao nhiêu. Chẳng phải Bồ-tát thượng thừa chắc không làm được như vậy.

Nhìn vào một đạo tràng của một ngôi chùa, sẽ thấy ngay đạo hạnh của của vị trụ trì dẫn dắt đạo tràng ấy. Một đạo tràng có bao nhiêu người, ở đó có bằng đó tâm lượng chúng sinh khác nhau. Một vị trụ trì dẫn dắt phải biết lắng nghe bằng đó tâm tư, nguyện vọng và bằng đó sự việc. Nếu không có sự nhẫn chịu, nếu không có sự dũng mãnh, sáng suốt của trí tuệ, và đặc biệt không có tâm hạnh từ bi của một vị Bồ-tát, thì không thể nào mà đạo tràng ấy yên ổn cho được.

Bằng pháp tu như huyễn văn huân văn tu kim cang tam muội, Bồ-tát Quán Thế Âm tu chứng đạt có 32 ứng hóa thân, 14 pháp thí vô úy, 4 đức vô tác nhiệm mầu. Phép tu này là phải quán sát mọi pháp là huyễn giả, sống trường trụ với phản văn văn tự tánh, văn huân văn tu là chất chứa những sự tu tập luôn luôn trong tâm, không còn gì lui sụt đạt kim cang tam muội.

Ngài từ nhĩ căn viên chiếu tam muội môn duyên tâm tự tại. Nhân tướng nhập lưu mà được tam ma đề, thành tựu bồ đề.

Qua pháp môn tu tập của ngài Bồ-tát Quán Thế Âm, con tự thấy căn cơ con thấp kém. Mỗi lần nghe một câu nói từ người khác, tâm liền bão động. Mãi chạy theo thanh trần bên ngoài phát sinh lo lắng, sợ hãi. Sinh tâm ích kỷ, giận hờn nếu không được nghe lời hay, ý đẹp. Mỗi một câu nói trực tâm của người khác, khiến lửa sân hận tràn đầy, thấy cả thân tâm con như đang trong địa ngục, máu huyết sôi lên như biển nước dâng trào. Và khi ấy con thấy mình là hiện thân của quỷ dữ, sẵn sàng tạo vô vàn nghiệp báo sấu xa, tệ hại. Nhẹ thì mắng chửi người khác, nặng thì mang tâm thù hằn và phẫn hận. Quả báo nhãn tiền ngay lập tức khi tự mình nhận lấy khổ đau bị người người xa lánh, khinh chê. Mỗi trận bão lửa trong lòng như thế, tránh sao được mệt mỏi và buồn chán, bệnh tật sẽ kéo về.

Học theo pháp môn của ngài Quán Thế Âm Bồ-tát, con sẽ trải lòng mình ra, thấy các pháp là huyễn giả chẳng thường hằng và không đem đến an lạc. Hàng ngày, hàng giờ, cho đến từng phút, từng giây, lắng nghe nội tâm mình, để thấy rằng con là một thực thể của vũ trụ. Mỗi tư duy của con đều có ảnh hưởng toàn vũ trụ này. Phát khởi lòng bi mẫn, thương cảm tới khắp pháp giới chúng sinh chứ chẳng giới hạn riêng trong người thân, gia đình. Con sẽ làm từ việc dễ làm nhất đó là lắng nghe, suy xét và chia sẻ với mọi người. Và xuyên suốt quán chiếu lời vị ân sư con đã dậy: “Sự tồn tại thật là mầu nhiệm. Hơi thở là chìa khóa mở cửa thế giới nội tâm siêu việt. Tất cả đều đáng yêu, đáng trân trọng”. 


Các bài viết khác

Tổ sư Nguyên Thiều với hành trạng và kệ thi tịch

Tổ sư Nguyên Thiều với hành trạng và kệ thi tịch

Năm Đinh Tỵ, tức năm 1677, Tổ sư đã đi theo thuyền buôn đến phủ Quy Ninh Đại Việt, tức là Quy Nhơn – Bình Định ngày nay, lập chùa Di Đà Thập Tháp truyền bá Phật pháp tại vùng này. Sau đó Tổ ra Phú Xuân lập chùa Vĩnh Ân và xây dựng tháp Phổ Đồng, tức là Tổ đình Quốc Ân ở Huế ngày nay, để tuyên dương Phật pháp và tháp Phổ Đồng do ngài xây dựng...

Người nhiếp thọ chánh pháp qua Kinh Thắng Man

Người nhiếp thọ chánh pháp qua Kinh Thắng Man

Bất cứ lúc nào cũng như ở đâu Nhiếp thọ chánh pháp và con người Nhiếp thọ chánh pháp đan xen vào nhau, tạo thành một thực thể sống động bất khả phân, thì ở đó và lúc đó chánh pháp được hưng thạnh và tồn tại đúng chân nghĩa của nó...

Thông báo: Khoá tu “Một Ngày Phước Huệ” mùng 07 tháng 10 năm Kỷ Hợi (2019) tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Thông báo: Khoá tu “Một Ngày Phước Huệ” mùng 07 tháng 10 năm Kỷ Hợi (2019) tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Trong Kinh Phổ Môn có dạy, nếu ai lâm nạn mà chí thành xưng danh hiệu cầu nguyện đức Quán Thế Âm Bồ Tát thì lửa không cháy, nước không trôi, quỷ không hại, xiềng xích không trói, tối tăm thành sáng suốt, thù oán thành thân cận. Với hạnh đại từ, đại bi của Bồ Tát Quán Thế Âm...

Suy nghĩ về hướng giáo dục đạo Phật cho tuổi trẻ

Suy nghĩ về hướng giáo dục đạo Phật cho tuổi trẻ

Tuổi trẻ học Phật không có mục đích trở thành nhà nghiên cứu Phật học, mà học Phật là tự thực tập khả năng tư duy bén nhạy, linh hoạt, để có thể nhìn thẳng vào vào bản chất sự sống. Cho nên, sự học Phật pháp không hề cản trở sự học thế gian pháp; kiến thức Phật học không xung dột với kiến thức thế tục. Duy chỉ có điều khác biệt, là học Phật khởi đi từ thực trạng đau khổ của nhân sinh để nhận thức đâu là hạnh phúc...

Đức Phật dạy về Bố thí

Đức Phật dạy về Bố thí

Do vị ấy bố thí không làm tổn thương mình và người khác, bất cứ nơi nào quả của việc bố thí ấy chín muồi, vị ấy sẽ được giàu có, sung mãn, đại phú, vị ấy sẽ không bị mất mát tài sản bất cứ lý do gì, dù là do lửa cháy, lụt lội, bị vua tịch thu, trộm cướp hay do những người thừa kế bị ghét bỏ chiếm đoạt...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

3532659