Trang chính » Phật Quốc Online »

Bản ngã của loài người chính là cái tâm sanh diệt không gián đoạn

Tác giả : Phan Kiên

Tác giả

Bài Kiểm Tra Cuối Kì

Đề bài: Luận đại thừa bách pháp minh môn chia thế giới thành 5 phạm trù tương ứng. Bạn hãy phân tích rõ sự tương ứng này? Nêu ví dụ minh chứng? Rút ra bài học cho bản thân.

 Bài Làm:

Sự sinh – diệt tương tục của mọi thành tố trong xã hội và tự nhiên, đã tạo nên nhân sinh, vũ trụ quan này. Bản ngã của loài người chính là cái tâm sanh diệt không gián đoạn ấy. Và đó cũng là gốc rễ của mọi vấn đề trong lối sống, văn phong mỹ tục của họ trên trái đất, điểm khác nhau nhận thấy rõ giữa bậc giác và kẻ phàm nằm thuộc về “Tâm”. Trong kinh Kim Cang có viết “Bình thường tâm thị đạo”. Vậy bình thường đó thôi với bậc giác ngộ là đạo. Ta đi phân tích rõ hơn 5 thành tố (tâm vương, tâm sở, sắc pháp, bất tương ưng hành pháp, vô vi pháp) với quan hệ tương ứng nằm trong “Luận đại thừa bách pháp minh môn”. Sẽ cho ta cái nhìn tổng quan về cấu tạo và hoạt động tâm lý loài người chúng ta. Giúp ta hiểu được hành nghiệp chính mình?

Xã hội tiến hóa về vật chất, công nghệ hiện đại, một số người luôn tự nhận rằng, mình học được những trí thức thượng đẳng, những sáng chế cao siêu, như việc phóng phi thuyền lên được mặt trăng, vượt ra khỏi không gian vũ trụ, chế tạo tàu ngầm đi được xuống đáy sâu của đại dương. Nhưng cái mà chưa làm được lại là điều đơn giản nhất, gần gũi quanh ta hằng ngày, chính là hiểu được “lòng người”, hiểu được “tâm chính mình”.

Nói về vấn đề của Tâm, tại sao nó lại chi phối tất cả mọi biến chuyển trong con người, chứa đựng toàn thế giới. Là vì nằm ở ông vua thứ 8 – tàng thức nằm trong hệ thống bát thức Tâm Vương, là nơi diễn ra hoạt động của nghiệp, cái kho chứa đựng vô tận. Sự quan hệ của Tâm Vương và Tâm Sở là mối quan hệ có sự giúp đỡ khi cần thiết của 51 Tâm sở tương ứng với 8 thức Tâm vương. Tùy vào những biến hiện các vấn đề khác nhau mà Tâm vương sẽ có sự yểm trợ cần thiết của Tâm sở. Lý do là vì 51 Tâm sở không giống nhau và 8 Tâm vương không phải lúc nào cũng thích hợp với tất cả 51 Tâm sở kia. Từ đó tạo nên tính phức tạp trong hệ thống tâm lý con người.

Đầu tiên là nói tới tiền ngũ thức (năm ông vua trước: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân thức), 5 thức này hoạt động không có sự sâu sắc, sự hiểu biết vạn pháp không toàn diện, chỉ hiểu biết theo cảnh, hình tướng bên ngoài. Dưới sự kết hợp của của 5 Tâm sở biến hành (tác ý, xúc, thọ, tưởng tư), 5 biệt cảnh (dục, niệm, thắng giải, định, huệ) và tiền ngũ thức còn quan hệ với một vài tâm sở khác, tạo nên những thứ có tịnh – nhiễm, gây nên những phiền não. Chính sự quan hệ không toàn diện và không đồng nhất, mà chúng ta luôn lầm tưởng những gì dân gian nói: phải mắt thấy, tai nghe mới là đúng. Tới đây ta hiểu được rằng, dù cho mắt có thấy, tai có nghe rõ, thân cảm nhận, hòa hợp các căn ý, mà ta chỉ tạm gọi cho nó cái tên là thật của thế gian thôi!

Dưới sự tác động qua lại giữa chủ – khách thể, có sự tướng ứng và điều chỉnh của ông vua thứ 6 – Ý thức, đây là thức ăn bản nhận diện căn bản của vạn pháp, cộng với sự hòa hợp Tiền ngũ thức đã tạo nên biểu hiện của con người trong ứng xử, sinh hoạt. Từ đó tạo ra tính cách, sự phân biệt sâu sắc, phân biệt cái đúng – sai, có – không, thiện – ác, vô ký để rồi mắc kẹt trong đấy. Cứ như vậy, sợi dây nghiệp sản sinh từ đó, tích tập lâu dài, để khi trong cuộc chiến phước – nghiệp, khi định đoạt nhân quả đã hiện bày. Ta mới thấy! sự trầm luân mọi chúng sinh trong vòng luân hồi ra sao? Nhưng khổ một điều, những gì chúng ta đang sống lại luôn lầm tưởng đó là có thật. Tâm thức con người luôn chấp ngã, cái này là do ông vua Ý thức dưới sự sai khiến của Mạt-na, trong khi Mạt-na lại chấp lấy cái bóng, chấp cái hình tướng giả cùng luôn với danh xưng giả tạo, được lấy từ trong A-lai-da. Khi mà tiền ngũ thức kia không có sự phân biệt sâu sắc, đón nhận những thứ Tịnh-nhiễm. Ý thức quan hệ đầy đủ với 5 Tâm sở biến hành và 5 Tâm sở biệt cảnh, mang trong mình đầy đủ 3 tính chất: thiện, ác, vô ký nên từ đây tạo ra những cảm thọ khổ, lạc, xả… tùy vào duyên cảnh thuận, không thuận hay trung hòa duyên. Tóm lại thức thứ 6 là có khả năng hiểu biết tính chất, giá trị vạn pháp về phương diện “phân biệt”. Từ đây ta có thể thấy, trong bát thức Tâm vương, ông vua Ý thức này là điểm then chốt. Trong lối sống tu hành, đây là thức mà con người có thể điều chỉnh để thay đổi được, hướng tới “Diệu quan sát trí” của hàng thánh.

Tiếp tới đến ông vua thứ 7 – Mạt-na, ông này còn có cái tên đặc biệt là “Câu sanh ngã chấp”. Trong ông vua thứ 8, A-lai-da thức là mặt ẩn của chủng tử các pháp, mặt hiện là hiện hành của các pháp, các pháp ấy là “y tha khởi tánh”. Ngộ nhận các pháp ấy là ngã pháp, ngã pháp ấy là “Biến kế chấp tánh”, tức là chấp cái tướng giả mạo, ta gọi là “ngã ái chấp tàng” trong A-lại-da. Ở Mạt-na thức này ta không thể nhìn nhận và thay đổi nó như là với cách nhìn với Ý thức được. Mạt-na rất tinh vi trong việc che lấp đi các hạt giống mà không lưu trữ lại, nó chọn lựa những tiềm năng mà Ý thức muốn nhớ. Mạt-na còn xuất hiện để bảo vệ thân thể khi mà nơi không có Ý thức hoạt động, còn làm nhiệm vụ truyền thông tin từ A-lại-da cho Ý thức và ngược lại, huân tập những thông tin vào cho A-lại-da. Trong quá trình hoạt động của mình, Mạt-na không lệ thuộc vào tiền ngũ thức cũng như sự sinh hoạt của thức thứ 6. Ông vua Mạt-na này! Có sự kết hợp với những Tâm sở khác nhau, nhưng ta có thể nhận rõ ràng nhất, do tính chất bị ô nhiễm từ lâu “ngã ái chấp tàng” – chấp cái bản ngã, nên Mạt-na bị Tâm sở si điều khiển, bị Tâm sở ác kiến lôi cuốn, và ngã mạn càng cao khi thân mật với Tâm sở mạn. Từ đây ta có thể thấy ngay Mạt-na sẽ có sự kết hợp với 8 Phiền não đại tùy và không có quan hệ với các Tâm sở bất định. Qua đó ta có thể thấy Mạt-na là ông vua vi tế, ẩn náu kỹ, hiểu biết vạn pháp trên phương diện so đo chấp trước. Với quá trình chuyển hóa trong tu tập của bậc giác ngộ thì Mạt-na sẽ thành “Bình đẳng tánh trí”.

Cuối cùng trong hệ thống Tâm vương là ông vua thứ 8 – A-lại-da thức. Ông vua này có tên là tàng thức: là nơi tàng trữ , dung chứa hạt giống tất cả vạn pháp, bị thức 7 luyến ai chấp làm bản ngã nên gọi là ngã ái chấp tàng. Tàng thức này xây dựng bình đẳng tất cả pháp thiện – ác. Thức này chỉ theo nghiệp báo thọ sinh, không gây nên nghiệp báo. Thức 8 này không bị ô nhiễm, không quan hệ với các Tâm sở sai lầm. Ông vua này mang thông tin của mọi vấn đề trên toàn thế giới. Thực hành đạo pháp, tu tập khi các hạt giống không còn thì A-lại-da thức chuyển thành “Đại viên cảnh trí”.

Từ đây ta đã hiểu được 8 ông Vua của mọi vấn đề kia, khi có sự kết hợp đúng lúc với các quan thần của mình là 51 Tâm sở sẽ sinh ra những nhận thức khác nhau về sự vật hiện tượng, về thế giới nhân sinh, vũ trụ quan và đưa ta tới quá trình tạo nghiệp. Trong sự sai khiến của thế giới duyên giả hợp, dù là những Tâm sở thiện, hay vô ký cũng không giúp ta giải thoát được luôn hồi sinh tử. Chỉ bằng con đường tu tập, thiền quán đặc tính của Tâm sở, ta chuyển thức sinh diệt sang trí giải thoát để đi trên còn thuyền bát nhã tới quả vị bồ đề chánh đẳng chánh giác.

Tới phần Sắc pháp, ta biết sự kết hợp Tâm vương với Tâm sở tạo ra 11 sắc pháp. Nó là “Tướng phần ảnh lượng” của các vua và quan thần ấy. Sắc pháp là thuần túy thuộc về vật chất, gồm tất cả những vật có màu sắc hiện hữu, hình sắc, tướng trạng trong thế gian và do bốn đại (đất, nước,gió, lửa) tạo thành. Ở đây ta hiểu những gì có tướng trạng là do nghiệp lực chi phối, nhờ duyên giả hợp nên nó hiện bày ra vậy. Tùy vào nghiệp lực khác nhau nên nhiều hình tướng sẽ khác nhau về vật chất. Tóm lại, theo nguyên lý biến tướng về vật chất có sự duyên sinh hòa hợp với quan hệ tứ đại, và tâm thức A-lại-da xây dựng, đây chính là mối quan hệ có “hợp tác của tâm và vật”.

Từ cái gọi là hợp tác, nghĩa là sẽ có cái bất hợp tác, cái không hợp tác này có 24 loại, và ở đây chỉ cho Bất tương ưng hành pháp. Nó có tính chất chứa nhóm, thuộc về ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), có sự sinh diệt trong nội tâm và ngoại tâm. Bất tương ưng tức là tâm và vật không thể hợp tác được với nhau, không thể quan hệ được với nhau. Nhưng 24 pháp Tâm bất tương hành này rất cần cho sinh hoạt của Tâm và vật chất trong mọi lĩnh vực nhân duyên và nhân quả. Sự xuất hiện của Tâm bất tương ưng hành pháp này giúp sự minh định rõ ràng hơn giữa Tâm với vật.

Tổng hợp các pháp trên: 8 Tâm vương, 51 Tâm sở, 11 Sắc pháp, 24 Bất tương ưng hành pháp, thành 94 pháp, gọi là pháp hữu vi – pháp sinh diệt . Khi có pháp hữu vi thì sẽ có pháp vô vi. Và vô vi là pháp không sinh diệt, không biến hoại, nó thuộc về trật tự của tánh không? Pháp hữu vi bàn tới vấn đề nhân duyên hợp tạo thành, quán chiếu ở đây ta biết được rằng: không có pháp vô vi làm nền tảng thì không có pháp hữu vi, và các pháp hữu vi thì hoàn toàn không phải là pháp vô vi. Từ đây ta có thể thấy dứt bỏ được hữu vi sẽ có vô vi, tìm được chân tâm của chính mình.

Qua 2 pháp trên, nhận thấy: pháp hữu vi được xây dựng trên Tâm sở hữu pháp, thông qua sự “Biến kế sở chấp” và dưới hình thức “y tha duyên khởi”, tạo nên sự biến động, sinh diệt tương tục trên thế gian này. Do biết được trong cái “biến kế sở chấp”, biết có cái không của “biến kể sở chấp”. Biết được trong nơi “y tha duyên khởi”, biết có cái không của “y tha duyển khởi”. Từ đó Giác ngộ A-lại-da vẫn là chân như, chân như ấy là “viên thành thật tánh”.

Ví dụ minh chứng: Hôm nay con lên chùa lễ Phật. Lễ xong, con nghĩ lại hôm qua mơ thấy Phật.

Phân tích: Về pháp hữu vi.

Tổng quát: Khi nhìn thấy Tam bảo, thấy Phật, là con mắt ta đã nhìn (nhãn căn đã duyên theo cảnh), nhãn thức đã đưa thông tin vào cho ý thức để gợi nhớ lại là hôm qua đã nằm mơ. Thật ra trong 1/20 nháy mắt con mắt đã phân biệt và đưa vào trong ý thức để có sự tác ý phân biệt hơn.

Ý thức lúc đấy sẽ phân biệt. Do cảnh trên chùa sẽ có hương khói, sẽ có tiếng chuông, có Tăng ni, Phật tử. Với bản năng của nhãn thức, nhĩ thức nhìn và nghe thứ có tịnh và nhiễm. Sự kết hợp của Tiền ngũ thức khi duyên với trần cảnh với nội tâm trong Ý thức. Nên khi ở đó với sự trang nghiêm tôn kính tâm tạo sinh ra sự thanh tịnh.

Sắc pháp: Có đầy đủ 5 căn, 6 trần: Sắc, thanh, hương, vị xúc trần (là màu hương khói, màu sắc tam bảo, tướng cảnh vật ….)

Bất tương ưng hành: Có thời gian, không gian, có phật tử cùng nhau đi chùa.

Do “y tha duyên khởi” nên rất nhiều suy nghĩ lúc đó được đưa ra trong ý thức: Như trước Tam bảo sẽ nghĩ hôm qua mình nằm mơ thấy Phật nào? Hình ảnh phật ra sao? Sau khi lễ Tam bảo thì hình ảnh Phật trên Tam bảo ấy được Mạt-na đưa luôn vào cho A-lại-da (nhiệm vụ truyền thông tin, vì lý do lấy lại tiềm năng của Ý thức nhớ lại), và cũng do chấp cái giấc mơ đêm qua (giấc mơ ấy là do sự nhận thức cảnh trong mộng của Ý Thức). Lại tưởng rằng giữa hôm nay lễ Phật, liên hệ giấc mơ đêm qua là trùng lặp, là điểm báo tốt lành gì? Là giấc mơ có thật sảy ra? Mạt-na tiếp tục chấp cái giả tiếp là sự liên tưởng trong quá khứ và hiện tại, đưa cái chấp này đưa cho A-lại-da.

Một điều hôm nay là hình ảnh Phật được huân tập thêm vào A-lai-da thông qua giấc mơ hôm qua, có thể thêm 1 sự kiện nào đó trong chùa, hoặc sự nhiệm màu về giấc mơ. Hoặc là trong A-lại-da đã chứa hạt giống thiện căn đi chùa trong đó, Mạt-na chấp vào có cái hạt giống ấy rồi thông tin cho ý thức về giấc mơ đêm qua.

Theo Vô vi pháp: hiểu được quá trình tu tập, tới chùa lễ Phật là để gần với Phật, gần với thầy với bạn hiền, chứ không nằm ngoài gì khác! Nếu không chấp vào giấc mơ, khi biết giấc mơ chỉ là thứ có tướng trạng, rồi sẽ hủy hoại theo thời gian, thứ đó không có thật, thì đi chùa sẽ chỉ là đi chùa lễ Phật thôi, nghĩ phải quấy, chuyện đông tây làm gì? Vì chấp vào thứ không có thật nên khiến Tâm ta tán loạn, dựa vào các duyên sẵn có mà các ý niệm lăng xăng hiện lên.

Điều cuối của “Luận đại thừa bách pháp minh môn” là: Chuyển bát thức thành tứ trí, tức là ta đang sống với bát thức quậy phá, lăng xăng lộn xộn, nghĩ có cái này cái kia, không phút nào yên tĩnh. Bát thức làm cho ta rối loạn, tạo nghiệp trong sanh tử. Tu tập là đưa tâm vào chỗ vô niệm, không có chỗ trụ, làm cho vọng lặng hết, khi ấy thì chuyển thức thành trí. Đầu tiên là chuyền được Ý thức thành Diệu quan sát trí, kế tiếp là Mạt-na thành Bình đẳng tánh trí, rồi tới A-lai-da thành Đại viên cảnh trí. Khi ba thức này chuyển rồi thì tiền ngũ thức mới chuyển theo sau là Thành sở tác trí. Vậy đó, tu là chuyển từ thức phân biệt sanh diệt sang trí chân thật bất sanh bất diệt, sáng suốt vô cùng.

Trong nhân sinh, vũ trụ quan này. Sự có mặt, hay mất đi của bất kì thứ gì trên thế gian đều không phải là là vô tình? Mà đều là hữu tình, do duyên sinh tạo, hết duyên thì lại diệt, quy luật vẫn vậy: sinh trụ dị diệt, mọi thứ khi bỏ bến mê, tìm về bờ giác “vẫn như vậy như vậy”, mọi thứ thường hằng, hiện tiền như gương sáng. Như đức Phật đã từng nói: khi 49 năm thuyết pháp, ngài đâu có nói câu nào, vì lời ngài nói đều là chân lý.

Với bản thân cá nhân, trong quá trình tu tập thì cần nhận ra con đường chánh pháp để không còn lầm lạc, cầu thầy tốt bạn hiền. Những gì thấy, biết của lục căn, cảm nhận của lục trần cộng sự kết hợp vi tế của ý thức chỉ cho ta thấy: là những thứ tạm bợ có được, tạm nhận được của thế gian này. Như Lai nói “thân này khó được”, nên mượn tạm cái thân này làm phương tiện tu tập, đừng thấy đó mà chấp bảo “vô thường” rồi bỏ thân tu, có gắng làm tốt cho xong việc, ngoài kia lửa vẫn đang cháy, trời đang tối dần. Tu tập thiền quán hằng ngày, điều thân quán xét tâm mình, tiếp cận với thiện tri thức, huân tập để có chánh niệm, để sống với tỉnh thức, để thấy đạo giữa cái cái bình thường của tâm.

Если Вы с любовью будете раскручивать свой сайт, он непременно будет популярен раскрутка сайтов спб: Продвижение и раскрутка сайта в поисковой системе Яндекс Не секрет, что Яндекс является самой популярной поисковой системой в русскоязычном интернете и большинство вебмастеров делают сайты именно под Яндекс


Các bài viết khác

Thông báo: Website đang trong quá trình nâng cấp

Thông báo: Website đang trong quá trình nâng cấp

Website www.bodephatquoc.com đang trong quá trình nâng cấp, chúng con kính gửi đến chư tôn đức và quý độc giả của trang nhà hoan hỷ xem tạm qua trang demo...

Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm

Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm

Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm không thể tách biệt lẫn nhau trong một đời sống có ý thức cao về vấn đề tự giác và giác tha. Nên, Tứ vô lượng tâm không thể tách biệt Bát chánh đạo. Bởi vì, Bát chánh đạo là thuộc về tự giác và Tứ vô lượng tâm là thuộc về giác tha. Nhưng, vấn đề tự giác hay giác tha là hai yếu tố không thể tách rời nơi một thực thể giác ngộ, mà chúng là hai mặt của một đời sống giác ngộ...

Người biết đặt gánh nặng xuống

Người biết đặt gánh nặng xuống

Con người cũng có khả năng tạo ra nhiều phước đức và cũng có khả năng tạo ra nhiều tội lỗi cho chính mình; con người vừa có khả năng che chở và bảo hộ muôn loài trên trái đất, và con người cũng vừa có khả năng sát phạt và hủy diệt muôn loài trên trái đất...

Chương trình “Pháp hội Dược Sư – Cầu an đầu năm 2020” tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Chương trình “Pháp hội Dược Sư – Cầu an đầu năm 2020” tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Hàng năm vào dịp đầu xuân, Bổn tự chùa Phước Long trang nghiêm thiết lễ khai đàn “Pháp hội Dược Sư - Cầu an đầu” để cho tứ chúng nương tựa tu học, khởi lên thiện tâm, gieo trồng căn lành trong năm mới. Vì vậy Bổn tự kính mời quý đạo hữu Phật tử, thiện tri thức gần xa cùng nhau vân tập về chùa để tu học...

Thư chúc Tết và chương trình Xuân Canh Tý 2020 tại chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Thư chúc Tết và chương trình Xuân Canh Tý 2020 tại chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Tết cổ truyền –  mừng Xuân Canh Tý 2020, Chùa Tây Thiên, thành phố Nha Trang tổ chức chương trình “Xuân Di Lặc” với những sinh hoạt vui xuân mang đậm nét đẹp truyền thống của dân tộc, pháp thoại đầu năm, khóa lễ Dược Sư, dâng sớ cầu an đầu năm, rút thăm trúng thưởng...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

5424984