Trang chính » Chuyên đề » Vu Lan »

Báo hiếu cha mẹ

Tác giả : Thích Phước Sơn

Mùa Vu Lan Báo Hiếu tại chùa Phước Long, Bình Định 2016, ảnh Tánh Hòa

Cứ mỗi độ thu về, chúng ta lại có dịp cử hành lễ Vu Lan báo hiếu. Báo hiếu là bổn phận thiêng liêng của tất cả mọi người. Ðông cũng như Tây, xưa cũng như nay, những người con hiếu không ai là không nghĩ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Nhưng cách thể hiện tấm lòng cụ thể tùy theo trình độ văn minh và phong tục tập quán của mỗi dân tộc mà có những khác biệt.

Ở Việt Nam ta, nhờ ảnh hưởng tinh thần kinh Vu Lan Bồn, mà ngày Rằm tháng Bảy hàng năm đã trở thành ngày hội truyền thống tốt đẹp của cả dân tộc. Ðây là cơ hội quý báu để những người con hiếu thảo báo đáp một phần nào công ơn trời bể của hai đấng sinh thành.

A. Công ơn Cha Mẹ được ca ngợi

I. Qua kinh điển

Theo truyền thống văn học Trung Quốc có lẽ Kinh Thi là bản kinh trình bày công ơn của mẹ khá khúc chiết. Nó tóm tắt công đức của mẹ thành chín điểm, gọi là chín chữ cù lao. Ðó là “Sinh nở, nâng đỡ, vỗ về, dạy dỗ, cho bú, nuôi lớn, trong nôm, nuông chiều, che chở”. (Sinh, cúc, phủ, dục, súc, trưởng, cố, phục, phúc).

Thế nhưng, kinh điển Phật giáo lại trình bày công ơn cha mẹ và phương pháp báo ân còn cụ thể và rốt ráo hơn. Chẳng hạn, kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân, đức Phật kể đến mười công đức của mẹ đối với con:

1. Chín tháng cưu mang khó nhọc.

2. Sợ hãi, đau đớn khi sinh.

3. Nuôi con cam đành cực khổ.

4. Nuốt cay, mớm ngọt cho con.

5. Chịu ướt, nhường ráo cho con.

6. Sú nước, nhai cơm cho con.

7. Vui giặt đồ dơ cho con.

8. Thương nhớ khi con xa nhà.

9. Có thể tạo tội vì con.

10. Nhịn đói cho con được no.

Trong kinh Tâm Ðịa Quán, đức Phật ví dụ công ơn cha mẹ như núi cao biển rộng:

“Ân cha lành cao như núi Thái

Ðức mẹ hiền sâu tợ biển khơi

Dù cho dâng trọn một đời

Cũng không trả hết ân người sinh ta”.

Ðức Phật còn thuyết giảng cho đồ chúng biết công đức cao cả của mẹ hiền:

“Này các thầy Tỳ-kheo, sữa mẹ mà các thầy đã bú khi lang thang trong ba cõi luân hồi, còn nhiều hơn là nước trong bốn đại dương”. (Kinh Tương Ưng II, 208).

Trong kinh Tăng Nhất A Hàm, đức Phật cũng kể đến công ơn sâu dày của cha mẹ, và khuyên con thảo phải báo hiếu ơn sâu:

“Này các Tỳ-kheo, nếu có kẻ vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, đi xa nghìn dặm, cung phụng đủ mọi thức ăn, đồ mặc, chăn nệm và thuốc thang, thậm chí cha mẹ có tiểu tiện trên vai mình đi nữa, cũng chưa trả được ân sâu. Các thầy phải hiểu rằng, ân cha mẹ nặng lắm, bồng bế nuôi nấng, dưỡng dục đúng lúc, làm cho ta trưởng thành. Vì thế mà biết ân đó rất khó trả. Này các Tỳ-kheo, có hai việc làm cho phàm phu được công đức lớn, được quả báo lớn, đó là phụng sự cha và phụng sự mẹ”  (Tăng Nhất A Hàm, D. II, 601).

Công ơn cha mẹ trọng đại như vậy, cho nên không có tội ác nào bằng tội bất hiếu, như trong kinh Nhẫn Nhục mô tả:

“Cùng tột điều thiện, không gì hơn hiếu,

Cùng tột điều ác, không gì hơn bất hiếu”.

II. Qua ca dao tục ngữ

Có lẽ ca dao tục ngữ là loại hình văn học có sức thuyết phục nhất dùng để mô tả tình cảm chân thành của những người con hiếu thảo đối với công ơn dưỡng dục bể trời của hai đấng sinh thành. Từ bé đến già, không nhiều thì ít, ai cũng cảm thấy thấm thía ơn đức cao cả của mẹ cha:

“Công cha đức mẹ cao dày

Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ

Nuôi con khó nhọc đến giờ

Trưởng thành con phải biết thờ song thân”.

“Biết thờ song thân”, thờ trong khi sống, thờ sau khi chết, thờ thế nào cho phải đạo làm con, cho xứng đáng phần nào công lao tảo tần nuôi con của mẹ:

“Nuôi con buôn tảo bán tần

Chỉ mong con lớn nên thân với đời

Những khi trái nắng trở trời

Con đau làm mẹ đứng ngồi không yên

Trọn đời vất vả triền miên,

Chạy lo bát gạo đồng tiền nuôi con”.

Thế nên, nếu so sánh công đức của mẹ hiền như non cao cũng chưa xứng đáng:

“Ai rằng công mẹ như non

Thực ra công mẹ lại còn lớn hơn”.

Tình mẹ thương con đậm đà như chuối ba hương, dẻo thơm như xôi nếp một và ngọt ngào như đường mía lau:

“Mẹ già như chuối ba hương

Như xôi nếp ngọt như đường mía lau”.

Lá cây trong rừng dẫu nhiều cũng không thể sánh bằng công ơn của mẹ. Sao trên trời thật khó đếm, nhưng công ơn của mẹ lại càng khó đếm hơn những vì sao:

“Ðố ai đếm được lá rừng,

Ðố ai đếm được mấy từng trời cao.

Ðố ai đếm được những vì sao,

Ðố ai đếm được công lao mẫu từ”.

Chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, sinh lực hao mòn, nặng nhọc gánh chịu, làm sao ta có thể quên được tình mẹ bao la như biển cả ấy:

“Nhớ ơn chín chữ cù lau

Ba năm nhủ bộ biết bao nhiêu tình”.

Tình ở đây là tình mẹ thương con. Tình thương ấy thật bao la, bát ngát, nên mỗi khi mẹ cất tiếng ru con thì đời con thêm tươi sáng:

“Ví dầu cầu ván đóng đinh,

Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.

Khó đi mẹ dắt con đi,

Con đi trường học mẹ đi trường đời”.

Người con trong lúc tuổi trẻ cấp sách đến trường, phải đua tranh với bè bạn, thi thố tài năng dưới mái học đường, tuy có vất vả, nhưng chẳng có nghĩa lý gì so với sự đảm đang tần tảo, chìu chồng nuôi con của mẹ hiền, khiến cho gia đạo thuận hòa, con cái nên người. Chính người mẹ đã dự vào cuộc thi của trường đời, đó là một cuộc thi đầy cam go, thử thách.

Vào những đêm thu, con không ngủ được vì trái nắng, trở trời, mẹ hiền phải thức thâu đêm để đưa võng ru con:

“Gió mùa thu mẹ ru con ngủ

Năm canh chày thức đủ năm canh”.

III. Qua những bài hát

Các nhạc sĩ là những người có tâm hồn nhạy cảm, dào dạt, nên thường diễn tả hình ảnh của bà mẹ rất sống động và hiện thực. Những bà mẹ sống với ruộng rẫy nương dâu, nơi đồng chua nước mặn, ăn mặc giản dị nâu sồng, không phấn sáp xa hoa, mà tâm hồn hiền hòa, chất phác. Những bà mẹ sống cuộc đời bình lặng như mặt nước hồ thu, nhưng vẫn giữ tiết kiên trung, cao cả. Chính những bà mẹ ấy đã đem những giọt mồ hôi tưới mát ruộng đồng, làm đẹp cuộc đời và đẹp cả quê hương:

“Mẹ Việt Nam không son, không phấn,

Mẹ Việt Nam chân lấm, tay bùn,

Mẹ Việt Nam không mang nhung gấm,

Mẹ Việt Nam mang tấm nâu sồng”.

(Phạm Duy, Trường ca Mẹ Việt Nam)

Hình ảnh của mẹ Việt Nam thật cao đẹp, công ơn của mẹ đối với con thật bao la. Công ơn ấy đã được khắc ghi sâu đậm vào tâm não của con, bộc phát thành những lời ca, tiếng nhạc hết sức dạt dào:

“Rủi mai này mẹ hiền mất đi, thì con côi…

Như đóa hoa không mặt trời

Như tuổi thơ không nụ cười

Như đời mình không lớn khôn thêm

Như bầu trời thiếu ánh sao đêm.

Mẹ là dòng suối dịu hiền.

Mẹ là bài hát thần tiên,

Là bóng mát trên cao, là mắt sáng trăng sao

Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối.

Mẹ là lọn mía ngọt ngào,

Mẹ là nải chuối, buồng cau,

Là tiếng dế đêm thâu, là nắng ấm nương dâu,

Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời”.

Và một bản nhạc khác diễn tả:

“Vì song thân có công sanh thành:

Sinh con tái tê lòng đau.

Nuôi con sánh công cù lao.

Sinh con ví ân trời cao.

Sinh con máu đào xiết bao!”.

Vào những đêm khuya nhớ mẹ, người con xa nhà, trông về quê cũ tưởng tượng hình ảnh mẹ hiền đang tựa cửa trông con:

“Ðêm khuya trăng mơ, mắt trông về trong cõi xa mờ.

Nơi xa xăm kia, tôi say nhìn quê cũ dấu yêu.

Ôi tình quê hương, nơi chốn xưa có người mẹ hiền,

Tóc màu hoa bạc, chiều chiều mắt hoen mờ vì con…”.

Vì thương nhớ mẹ đơn chiết ở nơi quê hương xa xôi, nên khi gặp bạn bè trở lại quê nhà, con sẽ gởi lời thăm mẹ, và hứa với mẹ luôn luôn khắc ghi những lời mẹ khuyên dạy:

“Ai đi về phía quê tôi, làm ơn cho nhắn vài lời nhớ thương.

Xa xôi buồn nhớ quê hương, mẹ già một nắng hai sương mõi mòn.

Ra đi một sáng tinh sương. Mẹ ơi con vẫn nhớ lời mẹ khuyên”.

B. Báo đáp công ơn Cha Mẹ

I. Qua kinh điển

Trong kinh Thi Ca La Việt, đức Phật kể đến năm bổn phận của con đối với cha mẹ:

1. Cung kính và vâng lời cha mẹ.

2. Phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu.

3. Giữ gìn thanh danh và truyền thống gia đình.

4. Bảo quản tài sản do cha mẹ để lại.

5. Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời.

(Trường Bộ Kinh IV, 188)

Kẻ nào làm tròn các bổn phận trên đây mới xứng đáng là người con hiếu thảo. Rồi Ðức Phật đề cập đến bốn trách nhiệm mà người con phải làm để hướng dẫn cha mẹ sống theo chánh pháp:

1. Nếu cha mẹ không có niềm tin, khuyến khích cha mẹ phát tâm tin tưởng Tam Bảo.

2. Nếu cha mẹ xan tham, khuyên cha mẹ phát tâm bố thí.

3. Nếu cha mẹ làm ác, khuyên cha mẹ hướng về đường thiện.

4. Nếu cha mẹ theo tà kiến, khuyên cha mẹ theo chánh kiến.

(Tăng Chi Bộ Kinh I A, 59).

Chúng ta lại thấy trong Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân. Ðức Phật cũng dạy những người con hiếu, những Phật tử chân chính cần phải thực hiện sáu bổn phận sau đây:

1. Giữ gìn Tam quy ngũ giới.

2. Thường học hỏi và đọc tụng kinh điển.

3. Siêng năng lễ Phật sám hối.

4. Thường cúng dường Tam Bảo.

5. Bố thí làm phước, hồi hướng công đức cho cha mẹ.

6. Cúng dường chư Tăng trong ngày Tự tứ.

Có nhiều phương thức để báo ân cha mẹ, như đức Phật đã kể lại hai tiền thân của Ngài trong kinh Ðại Phương Tiện Phật Báo Ân:

– Trường hợp thứ nhất, Ngài là một Thái tử tên là Tu Xà Ðề, đã tự lóc thịt mình dâng cha mẹ đỡ lòng, trong lúc chạy giặc hết cả lương thực.

– Trường hợp thứ hai, Ngài tên là Thái tử Nhẫn Nhục đã hiến đôi mắt mình để làm thuốc cứu cha thoát khỏi cơn bệnh hiểm nghèo.

Ngoài ra một bài kệ trong Kinh Tăng Chi còn mô tả:

“Cha mẹ là Phạm Thiên, là Đạo sư đời trước,

Xứng đáng được cúng dường, vì thương yêu con cháu…

Do vậy bậc hiền trí, đảnh lễ và tôn trọng.

Dâng thức ăn, nước uống; vải mặc và giường nằm.

Thoa bóp cả thân thể, tắm rửa cả tay chân,

Với việc làm như vậy; đối với mẹ và cha.

Ðời này nhiều người khen; đời sau hưởng thiên lạc”.

(Tăng Chi Bộ Kinh I, 124).

Dâng đồ ăn, đồ mặc, tôn trọng và đảnh lễ, đương nhiên là cách báo hiếu rất phổ thông nhưng đặc biệt hơn cả là báo hiếu theo tinh thần kinh Vu Lan Bồn. Qua kinh này, Ðức Phật dạy những người con hiếu nên làm theo gương của tôn giả Mục Kiền Liên. Nhân dịp rằm tháng bảy, ngày xá tội vong nhân và cũng là ngày Tự tứ, chư Phật hoan hỷ, Phật tử nên sắm sửa trai soạn và các thứ nhu yếu dâng lên cúng dường chúng Tăng, nhờ chư Tăng chú nguyện để cầu siêu độ cho cha mẹ quá khứ và lục thân quyến thuộc nhiều đời. Hình ảnh của Tôn giả Mục Kiền Liên dâng cơm cho mẹ đã được một thi sĩ mô tả bằng những lời thơ thật cảm động:

“Ðây bát cơm đầy nặng ước mong,

Mẹ ôí! Ðây ngọc với đây vàng,

Ðây tình con đọng trong tha thiết,

Ơn nghĩa sinh thành chưa trả xong”.

II. Qua ca dao tục ngữ

Giờ đây qua ca dao tục ngữ, một hình thức phô diễn rất phong phú, tự nhiên và thực tế của nhân gian, hình thức này cũng thường đề cập đến cách báo hiếu của con đối với cha mẹ.

Thông thường tuổi thọ con người dài hay ngắn là tùy theo hạnh nghiệp, không ai có quyền làm tăng thêm hay giảm bớt, nhưng vì quá thương cha mẹ, những người con hiếu hằng đêm thường thành tâm cầu nguyện Phật trời cho cha mẹ trường thọ để cha mẹ được sống mãi bên con:

“Ðêm đêm khẩn nguyện Phật trời,

Cầu cho cha mẹ sống đời với con”.

Thế nhưng muốn được gần gũi cha mẹ thì con phải có bổn phận:

“Muốn cho gần mẹ gần cha,

Khi vào thúng thóc, khi ra quan tiền”.

Hay là:

“Mẹ già ở túp lều tranh,

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con”.

Khi ở xa quê hương, người con hiếu luôn thương nhớ hai đấng sinh thành và không quên gởi về những nhu yếu mà cha mẹ thường dùng:

“Ai về tôi gởi buồng cau,

Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

Ai về tôi gởi đôi giầy,

Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi”.

Nếu ở gần cha mẹ thì con phải chìu theo sự ưa thích của cha mẹ mà dâng những món ngon, vật lạ:

“Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,

Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.

Ðói lòng ăn đọt chà là

Ðể cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”.

Con cái hiếu thảo với cha mẹ ruột là sự thường tình, nhưng chàng rể có hiếu với cha mẹ thật là điều hy hữu. Thế nhưng, việc này cũng đã từng xảy ra. Khi người vợ bạc bẻo, lỗi đạo phu thê, rẽ sang thuyền khác, người chồng vẫn sống độc thân, nuôi cha mẹ vợ trọn đời mà không quản gì khó nhọc:

“Chữ dâu hiền con gái

Cậu rể thảo con traiBậu dù quên nghĩa trúc mai.

Qua kính thờ song nhạc, há nài công lao!”

Người đời thường bảo:“thuận vợ thuận chồng, tát biển đông cũng cạn”. Cho nên khi vợ chồng hòa thuận sẽ làm được nhiều điều hữu ích. Do đó, chẳng những tạo được một gia đình hạnh phúc, mà còn khiến cho cha mẹ vui lòng, nhờ thế, được người đời hết lời khen ngợi:

“Em thì đi cấy ruộng đồng

Anh đi cắt lúa để chung một nhà

Ðem về phụng dưỡng mẹ cha.

III. Qua thơ văn

Một người con hiếu khi thấy mình càng ngày càng khôn lớn, thì cha mẹ càng trở nên già yếu, động lòng hiếu tử, nữ thi sĩ Trinh Tiên đã ước nguyện giảm bớt tuổi mình để cha mẹ được tăng thêm tuổi thọ:

“Con nguyện dâng bớt tuổi thọ mười năm,

Mười năm ấy dẫu vàng son gấm vóc

Mười năm ấy dù hương vàng châu ngọc,

Phủ che đời danh vọng cũng không ham.

Con vui chi mấy khó cảnh trần gian

Khi cha mẹ sức mòn theo hạnh nghiệp”.(Chánh Tín, 31)

Truyện Kiều là một tuyệt tác của dân tộc. Tố Như tiên sinh đã dốc hết tâm lực “Máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy” mà soạn ra tác phẩm ấy. Ðoạn cảm động nhất là tiên sinh tả cảnh tượng Thúy Kiều bán mình chuộc cha:

“Sao cho cốt nhục vẹn tuyền,

Trong khi ngộ biến tùng quyền biết sao?

Duyên hội ngộ, đức cù lao

Bên tình, bên hiếu bên nào nặng hơn.

Ðể lời thệ hải minh sơn

Làm con trước phải đền ơn sinh thành.

Quyết tình nàng mới hạ tình

Rẻ cho để thiếp bán mình chuộc cha”.

Ðứng giữa hai sự lựa chọn bên tình bên hiếu, người con gái không thể giữ vẹn cả hai, Kiều quyết định hy sinh tình yêu để báo đáp thâm ân cha mẹ. Thực là một sự lựa chọn khá thương tâm, đầy cao thượng, khiến cho ai xem đến cũng phải cảm thương, kính phục.

Xuyên qua những trình bày trên đây, tất cả đều nhằm minh họa công ơn cha mẹ là lớn lao cao cả. Do đó, phận làm con phải báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục, vì đây là nghĩa vụ thiêng liêng nhất trong những nghĩa vụ làm người.

Tựu trung có hai cách báo hiếu: theo thế thường và theo Phật giáo. Theo thế thường, khi cha mẹ còn sinh tiền, con cái phải chu cấp đầy đủ những nhu yếu vật chất để cha mẹ được an vui. Khi cha mẹ qua đời, con cái phải phụng thờ và thực hiện những di chúc để lại. Cách báo hiếu như vậy tuy cũng tốt đẹp, đáng quý, nhưng có lẽ chưa được trọn vẹn như cách báo hiếu mà đức Phật đã dạy. Theo Phật giáo, khi cha mẹ còn hiện tiền, con cái không những cung phụng đầy đủ những nhu yếu vật chất mà còn phải chăm sóc cha mẹ về phương diện tinh thần. Nếu cha mẹ làm điều ác, phải khuyên cha mẹ làm điều thiện, nếu cha mẹ theo tà kiến, phải khuyên cha mẹ theo chánh kiến, hướng dẫn cha mẹ tạo nhân lành để hưởng được quả báo an vui. Vì thế, người con không những báo hiếu cha mẹ hiện tại, mà còn báo hiếu cha mẹ trong nhiều đời quá khứ, không những trả ơn cha mẹ trong một kiếp mà còn trả ơn cha mẹ trong vĩnh kiếp. Thiết tưởng đó là cách báo hiếu đúng với chánh pháp và rốt ráo hơn cả.


Các bài viết khác

Thời kỳ đầu của Phật giáo Đại thừa

Thời kỳ đầu của Phật giáo Đại thừa

Tiểu thừa giáo lấy sự giải thoát của quả La Hán làm mục tiêu, Đại thừa giáo lấy sự viên mãn của Bồ Tát đạo - tức thành Phật - làm mục tiêu. Do vậy, mà đường đi của Bồ Tát là vô cùng sâu rộng. Chủ yếu là Bồ Tát phải phát Bồ đề tâm, phải tu hành theo sáu Ba la mật, phải tu chứng Thập địa. Khi ấy Bồ Tát mới thành tựu được Phật quả...

Người đi chùa thông minh

Người đi chùa thông minh

Đi chùa tu học cần phải thiết lập trên nền tảng của văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ. Do biết lắng nghe và học hỏi, khiến cho tâm tuệ trong ta sinh khởi; do ta biết quán chiếu thâm sâu đối với những gì đã nghe và đã học, khiến cho cái nghe không ích lợi, không chính xác của ta từ từ bị đoạn tận, khiến cho tâm tuệ trong ta sinh khởi và lớn mạnh...

Duy biểu học giảng luận: Bài kệ thứ 04

Duy biểu học giảng luận: Bài kệ thứ 04

Tất cả những gì mình ăn uống, buồn vui, khổ đau lo lắng mình đều có tác dụng gieo vào những hạt giống trong tàng thức của em bé và của mình. Cho nên bà mẹ tương lai phải tu nhiều lắm: khi đi đứng nằm ngồi, ăn uống, xem ti vi, nói chuyện phải hết sức cẩn thận. Tại vì những gì mình tiếp nhận bằng tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý đều là những con sông đưa những hạt giống vào tàng thức...

Từ biển tâm tĩnh lặng và nhìn lại thân mình

Từ biển tâm tĩnh lặng và nhìn lại thân mình

Sống với bậc hiền trí thì ai cũng thích, nhưng làm sao để bảo vệ họ? Họ hiền trí thì cứ để cho họ hiền trí theo cách sống hiền trí của họ là ta đã bảo vệ được họ. Ta hãy bảo vệ họ bằng những hành động và tâm ý không bảo vệ gì cả, đó mới là cách bảo vệ chân thực đối với họ...

Tản mạn về nguồn gốc của vũ trụ và con người

Tản mạn về nguồn gốc của vũ trụ và con người

Tìm hiểu về nguồn gốc của vũ trụ và con người là vấn đề có từ thuở bình minh của lịch sử, văn hóa, tư tưởng của nhân loại. Nó khởi đầu từ tư duy phản tỉnh của người Homo Sapiens ở châu Phi của hai trăm ngàn năm trước Tây lịch, chậm nhất là từ văn minh chữ viết cách đây chừng năm ngàn năm...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Cố trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Quốc sư Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh - Viện chủ chùa Tân Tân, An Nhơn, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu - Trụ trì Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • Thầy Thích Huyền Châu - Viện chủ Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978)
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973)
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978)
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897 - 11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT.  Thích Tịnh Khiết (1890 - 1973) - Cố Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Phước Thành (1918 - 2013), Trưởng lão Tăng già Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878 - 1979) - Cố Đệ Nhị Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927 - 2005) - Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904 - 1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định đương vi trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Cao tăng miền Bắc Việt Nam
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992) - Cố đệ tam Tăng thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008) - Cố Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Kế Châu (1922 - 1996) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp Di Đà, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982) - Đệ nhất trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Câu chuyện ẩn dụ về bốn bà vợ

Câu chuyện ẩn dụ về bốn bà vợ

Từ trên đỉnh cao của danh vọng và quyền thế, ông quên hẳn mặt trái của xã hội, cái mặt dàn trải đầy dẫy những hoàn cảnh khổ đau đói khát, cơm không có mà ăn, co ro trong manh áo rách cho qua đêm Đông rét mướt...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

902024