Trang chính » Phật Quốc Online » Tài liệu tham khảo »

Đặc điểm các tông phái Phật giáo Nhật Bản

Tác giả : Thượng tọa Thích Nguyên Tâm

Minh họa, ảnh PGTG

I- Thiên Thai Tông (天台宗, Tendai-shū)

1/ Tổ khai sáng hay Tông Tổ: Truyền Giáo Đại Sư Tối Trừng (最澄, Saichō, 767-822).

2/ Cao Tổ: Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597).

3/ Năm thành lập: 806

4/ Tên gọi khác: tên chính thức là Thiên Thai Pháp Hoa Viên Tông (天台法華圓宗), hay Pháp Hoa Viên Tông (法華圓宗), Thiên Thai Pháp Hoa Tông (天台法華宗), Chỉ Quán Tông (止觀宗).

5/ Tổng bản sơn: Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) ở Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan).

6/ Tượng thờ chính: tượng Phật Thích Ca ngồi, hay tượng Phật A Di Đà ngồi (đặc biệt đệ tử tại gia thường thờ tượng này)

7/ Tượng thờ hầu hai bên: bên phải là Thiên Thai Đại Sư Trí Khải, bên trái là Truyền Giáo Đại Sư Tối Trừng.

8/ Câu thường xướng tụng: câu chính thức là Nam Mô Tông Tổ Căn Bản Truyền Giáo Đại Sư Phước Tụ Kim Cang (南無宗祖根本傳敎大師福聚金剛, Namushūsokompondenkyōdaishifukujūkongō), nhưng câu thông dụng là Nam Mô A Di Đà Phật (南無阿彌陀佛, Namuamidabutsu).

9/ Kinh điển chính: Pháp Hoa Kinh, Đại Nhật Kinh, Kim Cang Kinh, Tô Tất Địa Kinh, Phạm Võng Bồ Tát Giới Kinh, Nhân Vương Bát Nhã Kinh, A Di Đà Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh, v.v.

10/ Giáo nghĩa: lấy căn bản là Kinh Pháp Hoa, dựa trên lập trường Chủ Nghĩa Nhất Thừa, Thiên Thai Tông Nhật Bản là tông phái dung hợp cả Bồ Tát Giới, Hiển Giáo, Mật Giáo, Thiền Pháp, v.v…, chủ trương rằng hết thảy mọi người, mọi sinh vật, mọi tồn tại đều có Phật tánh và có khả năng thành Phật.

II- Chân Ngôn Tông (眞言宗, Shingon-shū)

1/ Tổ khai sáng hay Tông Tổ: Hoằng Pháp Đại Sư Không Hải (空海, Kūkai, 774-835).

2/ Năm thành lập: 835

3/ Tên gọi khác: Chân Ngôn Đà La Ni Tông (眞言陀羅尼宗), Mật Tông (密宗), Chân Ngôn Mật Giáo (眞言密敎).

4/ Tổng bản sơn: Kim Cang Phong Tự (金剛峰寺, Kongōbō-ji) ở Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan).

5/ Tượng thờ chính: Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來).

6/ Tượng thờ hầu hai bên: bên phải là Hoằng Pháp Đại Sư Không Hải, bên trái là Bất Động Minh Vương (不動明王, Fudōmyōō).

7/ Câu thường xướng tụng: Nam Mô Đại Sư Biến Chiếu Kim Cang (南無大師遍照金剛, Namudaishihenjōkongō).

8/ Kinh điển chính: Đại Nhật Kinh, Kim Cang Đảnh Kinh, Bát Nhã Tâm Kinh, Lý Thú Kinh, v.v.

9/ Giáo nghĩa: Chân ngôn chính là cái thể hiện chân lý tuyệt đối của vũ trụ, là lời dạy của đức Đại Nhật Như Lai, là giáo thuyết Tức Thân Thành Phật (thành Phật ngay nơi thân nầy). Chân Ngôn Tông cho rằng ngay trong đời hiện tại có thể thành Phật. Hằng ngày sáng tối siêng năng chỉnh trang bàn thờ Phật, thực thành Tam Mật Hành Trì với tay thì bắt Đại Nhật Như Lai Trí Quyền Ấn, miệng tụng lời Phật, và nhất tâm quán tưởng Phật.

III- Tân Nghĩa Chân Ngôn Tông: Phái Trí Sơn, Phái Phong Sơn 

Tổ khai sáng: Tổ khai sáng của Tân Nghĩa Chân Ngôn Tông là Hưng Giáo Đại Sư Giác Noan (覺鑁, Kakuban), vị khai sáng Phái Trí Sơn (智山派) là Huyền Hựu (玄宥, Genyū), và vị khai sáng Phái Phong Sơn (豐山派) là Chuyên Dự (專譽, Senyo).

Năm thành lập: Tân Nghĩa Chân Ngôn Tông (1143), Phái Phong Sơn (1604), Phái Trí Sơn (1605).

Tổng bản sơn: Phái Phong Sơn là Trường Cốc Tự (長谷寺, Yamato), Phái Trí Sơn là Trí Tích Viện (智積院, Kyoto).

Tượng thờ chính: Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來).

Tượng thờ hầu hai bên: bên phải là Hoằng Pháp Đại Sư Không Hải, bên trái là Hưng Giáo Đại Sư Giác Noan.

IV- Tịnh Độ Tông (淨土宗, Jōdo-shū) 

Tổ khai sáng hay Tông Tổ: Viên Quang Đại Sư Pháp Nhiên (法然, Hōnen, 1133-1212).

Năm thành lập: 1212.

Tổng bản sơn: Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) ở kinh đô Kyoto.

Tượng thờ chính: tượng Phật A Di Đà đứng.

Tượng thờ hầu hai bên: bên phải là Đại Sư Thiện Đạo (善導, 613-681), bên trái Viên Quang Đại Sư Pháp Nhiên.

Câu thường xướng tụng: Nam Mô A Di Đà Phật (南無阿彌陀佛, Namuamidabutsu).

Kinh điển chính: Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh, A Di Đà Kinh.

Giáo nghĩa: Tông phái chủ trương tin vào sự cứu độ của A Di Đà Như Lai, xướng tụng danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, sau khi qua đời sẽ được sanh về cõi Tịnh Độ, và có thể thành Phật.

V- Tịnh Độ Chân Tông (淨土眞宗, Jōdoshin-shū)

Phái Bổn Nguyện Tự (本願寺派, Honganji-ha) 

Tổ khai sáng hay Tông Tổ: Thượng Nhân Thân Loan (親鸞, Shinran, 1173-1262).

Năm thành lập: 1262.

Tổng bản sơn: Tây Bổn Nguyện Tự (西本願寺, Nishihongan-ji) ở kinh đô Kyoto.

Tượng thờ chính: tượng Phật A Di Đà đứng, còn gọi là Tây Di Đà, phía sau lưng có 48 luồng hào quang, thể hiện 48 lời nguyện của Ngài.

Tượng thờ hầu hai bên: bên phải là Thượng Nhân Thân Loan, bên trái là Thượng Nhân Liên Như (蓮如, Rennyo, 1415-1499).

Câu thường xướng tụng: Nam Mô A Di Đà Phật (南無阿彌陀佛, Namuamidabutsu).

Kinh điển chính: Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh, A Di Đà Kinh.

Giáo nghĩa: Thân Loan chủ trương rằng không phải nương vào tự lực niệm Phật để vãng sanh về cõi Cực Lạc Tịnh Độ với ý chí của tự thân, mà nhờ có tin vào A Di Đà Như Lai, tự nhiên phát ra Tha Lực Niệm Phật của báo ân cảm tạ.

VI- Tịnh Độ Chân Tông (淨土眞宗, Jōdoshin-shū)

Phái Đại Cốc (大谷派, Ōtani-ha) 

Tổ khai sáng hay Tông Tổ: Giáo Như(敎如, Kyōnyo, 1558-1614).

Năm thành lập: 1614.

Tên gọi khác: Đại Phái (大派), Cốc Phái (谷派).

Tổng bản sơn: Đông Bổn Nguyện Tự (東本願寺, Higashihongan-ji) ở kinh đô Kyoto.

Tượng thờ chính: tượng Phật A Di Đà đứng, còn gọi là Đông Di Đà.

Tượng thờ hầu hai bên: bên phải là bức 10 chữ danh hiệu “Quy Mạng Tận Thập Phương Vô Lượng Quang Như Lai (歸命盡十方無量光如來)”, bên trái là 9 chữ danh hiệu “Nam Mô Bất Khả Tư Nghị Quang Như Lai (南無不可思議光如來).” 

Câu thường xướng tụng: Nam Mô A Di Đà Phật (南無阿彌陀佛, Namuamidabutsu).

Kinh điển chính: Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh, A Di Đà Kinh.

Giáo nghĩa: cũng nương vào giáo nghĩa của Thân Loan.

VII- Thời Tông (時宗, Ji-shū) 

Tổ khai sáng hay Tông Tổ: Nhất Biến (一遍, Ippen, 1239-1289).

Năm thành lập: 1289.

Tên gọi khác: Du Hành Tông (遊行宗), Du Hành Chúng (遊行眾), Thời Chúng (時眾).

Tổng bản sơn: Thanh Tịnh Quang Tự (清淨光寺, Shōjōkō-ji) ở Kanagawa-ken.

Tượng thờ chính: tượng Phật A Di Đà đứng (cũng có trường hợp tượng ngồi).

Tượng thờ hầu hai bên: bên phải là Thượng Nhân Nhất Biến, bên trái là Thượng Nhân Chân Giáo (眞敎, 1237-1319).

Câu thường xướng tụng: Nam Mô A Di Đà Phật (南無阿彌陀佛, Namuamidabutsu).

Kinh điển chính: Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh, A Di Đà Kinh.

Giáo nghĩa: trong Thời Tông, không kể có niềm tin hay không có niềm tin đối với đức Phật A Di Đà, nếu như niệm Phật thì có thể vãng sanh. Nguyện lực của Phật tuyệt đối, cho nên thậm chí người không có niềm tin cũng đều đều được vãng sanh.

VIII- Nhật Liên Tông (日蓮宗, Nichiren-shū) 

Tổ khai sáng hay Tông Tổ: Nhật Liên (日蓮, Nichiren, 1222-1282).

Năm thành lập: 1282.

Tên gọi khác: Pháp Hoa Tông (法華宗), Phật Lập Tông (佛立宗), Nhật Liên Chánh Tông (日蓮法華宗).

Tổng bản sơn: Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji) ở Thân Diên Sơn (身延山), Yamanashi-ken.

Tượng thờ chính: Đồ Hình Mạn Đà La với dòng chữ Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh ở giữa.

Tượng thờ hầu hai bên: bên phải là Quỷ Tử Mẫu Thần (鬼子母神), bên trái là Đại Hắc Thiên (大黑天).

Câu thường xướng tụng: Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (南無妙法蓮華經, Namumyōhōrengekyō).

Kinh điển chính: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.

Giáo nghĩa: tông phái này chủ trương rằng Kinh Pháp Hoa chính là tiếng của Phật, vừa xướng tụng đề mục Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh và tích lũy các việc thiện, thì bất cứ ai cũng được cứu độ.

IX- Lâm Tế Tông (臨濟宗, Rinzai-shū)

Phái Diệu Tâm Tự (妙心寺派, Myōshinji-ha) 

Tổ khai sáng hay Tông Tổ: Tổ khai sáng Lâm Tế Tông Nhật Bản là Minh Am Vinh Tây (明庵榮西, Myōan Eisai, 1141-1215), nhưng Tổ khai sáng Phái Diệu Tâm Tự là Quan Sơn Huệ Huyền (關山慧玄, Kanzan Egen, 1277-1361), hiệu Vô Tướng Đại Sư (無相大師).

Năm thành lập: 1360.

Tổng bản sơn: Diệu Tâm Tự(妙心寺, Myōshin-ji) ở Tokyo.

Tượng thờ chính:  tượng Phật Thích Ca ngồi.

Tượng thờ hầu hai bên: bên phải là Vô Tướng Đại Sư, bên trái là Hoa Viên Pháp Hoàng (花園法皇).

Câu thường xướng tụng: Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật (南無釋迦牟尼佛, Namushakamunibutsu).

Kinh điển chính: Bát Nhã Tâm Kinh, Đại Bi Chú, Quan Âm Kinh, Lâm Tế Lục, Bích Nham Lục, v.v.

Giáo nghĩa: vị Tổ gốc của Lâm Tế Tông Trung Quốc là Lâm Tế Nghĩa Huyền, Tổ khai sáng Lâm Tế Tông Nhật Bản là Minh Am Vinh Tây. Với hình thức lập trường của Khán Thoại Thiền từ công án để giáo hóa đệ tử, tông phái này chủ trương rằng từ việc ngộ ra được rằng bất cứ ai cũng có đầy đủ tính con người thuần túy, bản tánh của tâm con người đồng nhất với Phật, nên mới có thể thành Phật. 

X- Tào Động Tông (曹洞宗, Sōtō-shū) 

Tổ khai sáng hay Tông Tổ: Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253), hiệu Thừa Dương Đại Sư (承陽大師).

Năm thành lập: 1253.

Tổng bản sơn: Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) ở Fukui-ken.

Tượng thờ chính:  tượng Phật Thích Ca ngồi.

Tượng thờ hầu hai bên: bên phải là Vô Tướng Đại Sư Đạo Nguyên, bên phải là Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾, Keizan Jōkin, 1268-1325), hiệu Thường Tế Đại Sư (常濟大師).

Câu thường xướng tụng: Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật (南無釋迦牟尼佛, Namushakamunibutsu).

Kinh điển chính: Bát Nhã Tâm Kinh, Đại Bi Chú, Phẩm Phổ Môn, Tham Đồng Khế, Chánh Pháp Nhãn Tạng, Truyền Quang Lục, Tu Chứng Nghi, v.v.

Giáo nghĩa: Tông phái lấy Phật pháp chánh truyền làm truyền thống, kính ngưỡng đấng chủ tôn Thích Ca với xưng hiệu Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, lấy tâm gọi là tức tâm thị Phật (chính tâm này là Phật), tinh cần Tọa Thiền. Việc Tọa Thiền của Tào Động Tông khác với truyền thống của Thiền Trung Quốc, tức là dựa trên cơ sở chủ trương tu chứng nhất như của Đạo Nguyên, chuyên tâm Chỉ Quản Đả Tọa (chỉ ngồi mà thôi).

XI- Dung Thông Niệm Phật Tông (融通念佛宗, Yūzūnembutsu-shū) 

Tổ khai sáng hay Tông Tổ: Thánh Ứng Đại Sư Lương Nhẫn (聖應大師良忍).

Năm thành lập: 1132.

Tên gọi khác: Đại Niệm Phật Tông (大念佛宗).

Tổng bản sơn: Đại Niệm Phật Tự (大念佛寺, Dainembutsu-ji) ở Hirano.

Tượng thờ chính:  tranh vẽ hình tượng 11 vị Trời chứng đắc Như Lai.

Câu thường xướng tụng: Nam Mô A Di Đà Phật (南無阿彌陀佛, Namuamidabutsu).

Kinh điển chính: Hoa Nghiêm Kinh, Pháp Hoa Kinh, bên cạnh đó còn có Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh, A Di Đà Kinh.

Giáo nghĩa: chủ yếu dựa vào Hoa Nghiêm Kinh, Pháp Hoa Kinh và cọng thêm 3 bộ kinh lớn của Tịnh Độ, tông phái này chủ trương từ lập trường một người niệm Phật thì dung thông cả vạn người niệm Phật, với hình thức niệm Phật bằng miệng thì có thể sanh vào cõi Tịnh Độ.

(Nguồn: bodephatquoc.org)


Các bài viết khác

Thời kỳ đầu của Phật giáo Đại thừa

Thời kỳ đầu của Phật giáo Đại thừa

Tiểu thừa giáo lấy sự giải thoát của quả La Hán làm mục tiêu, Đại thừa giáo lấy sự viên mãn của Bồ Tát đạo - tức thành Phật - làm mục tiêu. Do vậy, mà đường đi của Bồ Tát là vô cùng sâu rộng. Chủ yếu là Bồ Tát phải phát Bồ đề tâm, phải tu hành theo sáu Ba la mật, phải tu chứng Thập địa. Khi ấy Bồ Tát mới thành tựu được Phật quả...

Người đi chùa thông minh

Người đi chùa thông minh

Đi chùa tu học cần phải thiết lập trên nền tảng của văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ. Do biết lắng nghe và học hỏi, khiến cho tâm tuệ trong ta sinh khởi; do ta biết quán chiếu thâm sâu đối với những gì đã nghe và đã học, khiến cho cái nghe không ích lợi, không chính xác của ta từ từ bị đoạn tận, khiến cho tâm tuệ trong ta sinh khởi và lớn mạnh...

Duy biểu học giảng luận: Bài kệ thứ 04

Duy biểu học giảng luận: Bài kệ thứ 04

Tất cả những gì mình ăn uống, buồn vui, khổ đau lo lắng mình đều có tác dụng gieo vào những hạt giống trong tàng thức của em bé và của mình. Cho nên bà mẹ tương lai phải tu nhiều lắm: khi đi đứng nằm ngồi, ăn uống, xem ti vi, nói chuyện phải hết sức cẩn thận. Tại vì những gì mình tiếp nhận bằng tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý đều là những con sông đưa những hạt giống vào tàng thức...

Từ biển tâm tĩnh lặng và nhìn lại thân mình

Từ biển tâm tĩnh lặng và nhìn lại thân mình

Sống với bậc hiền trí thì ai cũng thích, nhưng làm sao để bảo vệ họ? Họ hiền trí thì cứ để cho họ hiền trí theo cách sống hiền trí của họ là ta đã bảo vệ được họ. Ta hãy bảo vệ họ bằng những hành động và tâm ý không bảo vệ gì cả, đó mới là cách bảo vệ chân thực đối với họ...

Tản mạn về nguồn gốc của vũ trụ và con người

Tản mạn về nguồn gốc của vũ trụ và con người

Tìm hiểu về nguồn gốc của vũ trụ và con người là vấn đề có từ thuở bình minh của lịch sử, văn hóa, tư tưởng của nhân loại. Nó khởi đầu từ tư duy phản tỉnh của người Homo Sapiens ở châu Phi của hai trăm ngàn năm trước Tây lịch, chậm nhất là từ văn minh chữ viết cách đây chừng năm ngàn năm...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Cố trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Quốc sư Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh - Viện chủ chùa Tân Tân, An Nhơn, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu - Trụ trì Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • Thầy Thích Huyền Châu - Viện chủ Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978)
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973)
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978)
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897 - 11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT.  Thích Tịnh Khiết (1890 - 1973) - Cố Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Phước Thành (1918 - 2013), Trưởng lão Tăng già Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878 - 1979) - Cố Đệ Nhị Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927 - 2005) - Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904 - 1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định đương vi trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Cao tăng miền Bắc Việt Nam
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992) - Cố đệ tam Tăng thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008) - Cố Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Kế Châu (1922 - 1996) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp Di Đà, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982) - Đệ nhất trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Câu chuyện ẩn dụ về bốn bà vợ

Câu chuyện ẩn dụ về bốn bà vợ

Từ trên đỉnh cao của danh vọng và quyền thế, ông quên hẳn mặt trái của xã hội, cái mặt dàn trải đầy dẫy những hoàn cảnh khổ đau đói khát, cơm không có mà ăn, co ro trong manh áo rách cho qua đêm Đông rét mướt...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

902038