Trang chính » Chuyên mục » Giáo dục »

Đạo Phật và vai trò cải thiện xã hội

Tác giả : Thích Đồng An

ảnh minh họa

Từ khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam, tuy trải qua bao nhiêu thế hệ con người, bao nhiêu triều đại lịch sử, bao nhiêu biến đổi thăng trầm của đất nước, nhưng với tinh thần “tuỳ duyên bất biến” đạo Phật vẫn luôn là người bạn đồng hành với dân tộc, cùng chung vai gánh vác non sông, cùng chứng kiến những cảnh ngộ buồn vui suy thịnh của cuộc đời. Không vì sự biến dịch của vô thường vật chất đó mà đạo Phật quên đi vai trò cải tạo xã hội, cải thiện con người làm cho đất nước quê hương dân tộc Việt Nam càng ngày càng tươi đẹp, hạnh phúc.

Từ xưa đến nay, trên toàn thế giới từ khi chế độ phụ hệ được hình thành thì chưa có 5 năm xã hội không có chiến tranh. Loài người luôn tự gây chiến tranh với nhau, để rồi tự hứng chịu bao nhiêu cảnh đầu rơi máu chảy, cùng những nước mắt biệt ly, xa cách, đau thương. Điều đó chính là chất xúc tác làm cho con người ngày càng trở nên độc ác, mất dần đạo đức; không tạo ra được mối quan hệ tình người tốt đẹp, luôn gây khổ đau cho toàn nhân loại, cho từng quốc, từng xã hội, từng gia đình và từng cá nhân đang tồn tại.

Thế giới có chiến tranh, bởi các quốc gia thù ghét, sanh lòng tham lam, muốn chiếm đoạt nước khác. Từng tổ chức chống đối, bất đồng lẫn nhau, gây ra nhiều xung đột, từ nhỏ dần thành qui mô lớn, rồi thành chiến tranh toàn thế giới. Kết quả đau đớn đáng thương nhất luôn là những quốc gia, những dân tộc bị xâm lăng. Nhiều gia đình phải lâm vào cảnh loạn lạc ly tán, mẹ xa con, vợ khóc chồng, dập vùi khổ sở trong bom đạn đau thương, trong xương rơi máu đổ, quằng quại trong hố sâu bùn lầy tội lỗi, đất cát bụi đường, sợ hãi lo âu. Chiến tranh là một thảm họa của nhân loại. Không có chiến tranh nào không gây tổn thất hai bên. Không có chiến tranh nào không đưa đến khổ đau cho con người.

Chiến tranh là hai phía đối nghịch nhau, tiêu diệt lẫn nhau. Vì loài người có tâm độc ác, muốn giết hại kẻ khác để phục vụ nhu cầu sống. Thứ nữa, con người muốn chiếm đoạt tất cả vật chất của kẻ khác để làm của riêng hưởng thụ, cho thỏa lòng tham lam dục vọng thấp hèn. Bên cạnh đó, con người muốn hưởng thụ riêng mình về vật chất lẫn tinh thần nên muốn thống lĩnh tất cả, muốn mọi người phục vụ cho bản ngã riêng tư. Nhiều người có tư tưởng như trên hợp lại thì bắt đầu có tranh chấp xung đột. Muốn chiến thắng phải lừa dối hãm hại lẫn nhau không từ một thủ đoạn tàn ác nào, để rồi gây nên chiến tranh tiêu diệt kẻ thù. Tư tưởng con người càng độc ác, khoa học kỹ thuật vật chất càng hiện đại, càng phát triển thì chiến tranh càng tàn khốc; con người chịu hậu quả càng tệ hại và nhiều người càng khổ đau hơn.
Muốn có cuộc sống hòa bình hạnh phúc, con người phải bỏ đi những tư tưởng ác, thay vào đó những tư tưởng lành, thiện, thương yêu gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau. Một khi chiến tranh không còn nữa, con người sẽ sống yên ổn, xã hội ổn định, thế giới phát triển văn minh tiến hóa hơn. Để làm được điều đó, từng quốc gia phải có những chính sách nhân đạo, cải thiện tư tưởng đời sống nhân dân, khuyến khích mọi tầng lớp người bỏ ác làm lành, thương yêu đùm bọc lẫn nhau và phải biết những gì đã và đang làm hôm nay thì tương lai sẽ lãnh hậu quả. Có ý thức được điều đó, con người từng bước tự ý thức bỏ những tư tưởng ác, thực hành xu hướng tìm những hoạt động hữu ích chung cho nhân loại. Làm như thế sẽ vơi đi phần nào khổ đau.

Bên cạnh những tư tường chiến tranh, đã từ lâu nhân loại nói chung, từng quốc gia nói riêng cũng có những ý thức sâu sắc được hậu quả của chiến tranh. Từ đó, loài người có nhiều tư tưởng tiến bộ, cải thiện đời sống xã hội, cải thiện từng quốc gia, từng gia đình, từng cá nhân hiện tại. Tuy nhiên, biện pháp khác nhau nhưng đều quy chung về xu hướng bỏ ác làm lành, vươn đến trí tuệ.

Ở Trung Quốc, một tư tưởng tiêu biểu mà từ xưa Khổng Tử đã đưa ra để cải thiện xã hội: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Nghĩa là muốn thiên hạ thái bình phải trị quốc yên nhà; muốn từng nhà yên ổn, mỗi người phải tu thân; muốn tu thân phải thành ý trí tri cách vật. “Tư tưởng cách vật” là tư tưởng con người làm chủ thân tâm, làm chủ sự vật. Tư tưởng rất tiến bộ làm cho từng cá nhân trong từng gia đình biết cải thiện, biết làm chủ hòan cảnh, không bị cám dỗ bởi danh lợi. Gia đình sống yên ổn không gây gổ, không mất mát, không rối loạn. Từng gia đình yên ổn dẫn đến xã hội ổn định, đất nước phát triển tốt đẹp về mọi mặt, nhất là văn hóa đạo đức cũng như nhân phẩm tư cách con người được đề cao.

Đứng về phương diện Phật giáo mà nhìn, có thể nói tư tưởng Nho giáo có tiến bộ, có tác dụng to lớn đối với xã hội, đối với con người, song có phần chưa rốt ráo. Vì sao? Con người không chỉ sống một đời mà phải luân hồi nhiều kiếp, phải tái sanh loài này sang loài khác, đời sống này sang đời sống kia. Nếu không có đời sống sau, không có tái sanh, không luân hồi nghiệp báo, thử hỏi con người chết sẽ về đâu? Không thể nói đoạn diệt hay thường còn. Đoạn diệt và thường còn là hai vấn đề luôn luôn mâu thuẫn với nhau, đoạn diệt rồi không thể thường còn, thường còn thì không thể đoạn diệt. Nếu đoạn diệt, vậy sống để làm gì? Nếu thường còn, vậy ta là ai trước khi có đời sống sanh diệt này? Nên vấn đề sanh tử luân hồi của đạo Phật không phải không căn cứ. Nếu thế, mục đích tối hậu của Phật giáo là gì? Đó là còn nghiệp còn luân hồi khổ đau, hết nghiệp là hết sanh tử, hết khổ đau. Giải thóat tam giới là giải thóat hòan toàn khỏi khổ đau.

Phật giáo có những phương pháp cụ thể cải thiện con người như thế nào? Giáo lý đạo Phật có cạn có sâu, có thô có tế, có cao có thấp, tuỳ theo từng trình độ căn cơ của mỗi chúng sanh. Bởi đức Phật Thích Ca, khi xưa thành đạo dưới cội Bồ đề, sau 49 ngày đêm hồi quang phản chiếu, Ngài quán sát hồ sen trước mặt, nhìn thấy những bông sen trồi lên mặt nước tỏa ngát hương thơm, có những bông còn lưng chừng trong nước, có những bông còn khép nụ trong bùn. Tuy vậy, tất cả rồi sẽ tỏa hương thơm, mang lại hạnh phúc cho con người. Căn cơ của chúng sanh cũng như vậy. Mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, đều có tánh giác thường hiển lộ nơi 6 căn. Nhân vì mỗi chúng sanh bị vô minh che lấp nên còn ngủ mê chưa thức tỉnh, chưa biết thực tập chánh niệm. Nếu nhận được tâm mình là Phật, các pháp đều như huyễn hóa, ắt mọi người sẽ tự giải thoát đau khổ làm lợi ích cho mình cho người, góp phần cải thiện xã hội, cải thiện loài người.

Giáo lý đức Phật thuyết ra vô lượng pháp môn, mỗi pháp môn phù hợp mỗi căn cơ trình độ của mỗi người. Đức Phật cũng giống như vị Đại Y Vương, giáo pháp của ngài ví như các vị thuốc chữa lành bệnh khổ tham, sân, si của chúng sanh. Cụ thể từ thấp đến cao, giáo lý được chia làm 5 thừa: Nhơn Thừa, Thiên Thừa, Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa và Bồ Tát Thừa. Ở đây chỉ bàn về Nhơn Thừa, tức năm giới của người Phật tử. Năm giới gồm có: Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu.

Giới thứ nhất: không sát sanh tức không có tâm giết hại tất cả các loài hữu tình từ nhỏ nhít như muỗi mòng, rận rệp, cho đến gia súc gia cầm, các loài động vật trong đó có con người. Mục đích không sát sanh để tăng trưởng lòng từ bi, vị tha là hai đức tính quí báu của một con người. Trong một gia đình có một người giữ giới không sát sanh là đã thực hành lòng từ bi bố thí cứu giúp cho mọi người mọi loài. Với gia đình thì trên thờ phụng tổ tiên, hiếu kính cha mẹ, dưới thuận thảo anh chị em, bên ngoài tôn trọng thương yêu bạn bè. Như vậy, người đó đã tạo nên cảnh hạnh phúc cho chính mình, mọi người trong gia đình cùng hưởng hạnh phúc thơm lây. Một gia đình giữ giới không sát sanh, thời cả xóm làng cùng hòa thuận vui vẻ lây. Nhà nhà người người giữ giới bất sát, thực tập từ bi thì xã hội yên ổn hạnh phúc; nơi nơi chốn chốn đều là cảnh an vui hòa thuận, đất nước thái bình nhân dân an lạc. Dân tộc nào, xã hội nào, quốc gia nào cũng giữ giới bất sát, thực tập từ bi quyết định rằng không còn cảnh chiến tranh đổ máu, làm gì có cảnh con người tàn sát lẫn nhau, đâu còn những con người nghèo khổ phải lê lết xin ăn mà không người cứu giúp. Như vậy, thế giới hòa bình cùng nhau xây dựng phát triển mối quan hệ tình người, quan hệ ngoại giao kinh tế càng gắn bó sâu sắc hơn, cùng nhau phát triển tiến bộ văn minh giàu đẹp hơn.

Với một giới không sát sanh đã có giá trị to lớn trong vai trò cải thiện xã hội tốt đẹp. Chỉ thế thôi, cũng đủ khẳng định đạo Phật quả là đạo chân thật, giáo lý Phật giáo thật quí báu cần được phát huy, cần được xiển dương.

Giới thứ hai không trộm cướp: Không trộm cướp tức không lấy bất cứ vật gì không phải sở hữu của mình. Mục đích không trộm cướp để đối trị lòng tham lam. Vì chính lòng tham lam là đầu mối của những cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa. Một nước giàu tài nguyên luôn là đối tượng dòm ngó để phân chia giành xé của các đế quốc. Loài người không có tư tưởng trộm cướp, không lấy của phi tài, thời một nước nhỏ cũng không bao giờ bị xâm lấn. Một người không trộm cướp góp phần bảo vệ cuộc sống yên bình, không mất mát của gia đình đó. Trong nhà không có cảnh anh em chém giết lẫn nhau để chia gia tài, thay vào đó cảnh trên kính dưới nhường, anh em hòa thuận, cháu con hiếu thảo, cha mẹ an vui. Một nhà như vậy thì xóm làng giảm đi một phần mất mát tài sản, không phải lo lắng trộm cướp; thay vào đó tình làng nghĩa xóm gắn bó sâu sắc hơn, ai cũng không trộm cướp thì mọi người không phải đóng cửa khi ra đường; xã hội không còn người tham lam của cải, không còn tệ nạn trộm cướp, không còn những băng đảng cướp giật, không còn những tổ chức hối lộ tham ô, không còn những đường dây buôn bán hàng nhập lậu; đất nước sẽ phát triển tự nhiên vì không còn kẻ thiếu ăn, thiếu vật chất. Một khi con người xem thường vật chất là lúc tâm linh con người được cải thiện nâng cao, con người sẽ có xu hướng cải ác làm lành, cứu giúp lẫn nhau, nhường cơm xẻ áo.

Thế giới như vậy làm gì còn chiến tranh xâm chiếm thuộc địa, mọi người sẽ tự do tư tưởng; không lo sợ mất mạng sống, không lo sợ mất mát vật chất, không còn sợ nghèo đói. Con người sống hạnh phúc hơn, thoải mái hơn trong tư tưởng, vơi đi phần nào khổ đau của kiếp người.

Giới thứ ba không tà dâm: tức không dâm ô tà vạy, nghĩa là chỉ một vợ một chồng chung thuỷ trọn đời, không quan hệ lang chạ bừa bãi. Vợ chồng không chung thủy chính là đầu mối sinh ra những cảnh ghen tuông, vợ chồng chia rẽ, con cái mất hạnh phúc, mất ổn định. Gia đình không tà dâm liền thay vào đó cảnh thuận vợ thuận chồng, con cái gắn bó thương yêu, an ổn học hành sinh sống. Người người đều giữ giới không tà dâm, tức xã hội ổn định trật tự, không còn nhiều tệ nạn xã hội, từng gia đình vợ chồng con cái đoàn kết thương yêu gắng bó cùng phát triển. Đạo đức luân thường của con người được đề cao nên đất nước phát triển, văn hóa văn minh đạo đức được củng cố.
Giới thứ tư là giới không nói dối: Con người vì ích kỷ tham lam mà sinh ra lừa dối. Mục đích nói lời lừa gạt người khác là để đạt được lợi ích cho mình. Với tư tưởng lừa dối như vậy, luôn làm cho người khác khổ đau, làm kẻ khác phải hao tổn vật chất lẫn tinh thần. Bởi sư ích kỷ hại người sẽ sinh ra hận thù, chiến tranh giành giật để phục vụ cho bản ngã, cho nhu cầu ích kỷ tự thân. Sở dĩ những thành phần, những tổ chức xã hội như băng đảng trộm cướp, buôn lậu tham ô hối lộ cho đến những băng đảng MAFIA, những tổ chức khủng bố khắp nơi cũng từ đây mà ra. Bởi vậy muốn con người hạnh phúc, muốn trật tự xã hội ổn định, mọi người phải sống chân thật với nhau, cũng như chân thật với chính mình. Nếu xã hội không có người nói dối, con người sẽ có hiểu biết chân thật, hạnh phúc chân thật và giải thoát chân thật. Vì sự thật chính là chân lý. Chân lý chỉ có được khi những cái giả dối không còn. Con người không theo các pháp giả dối, tức con người có trí tuệ chân thật. Có thể nói giới thứ tư rất quan trọng cho một người muốn vươn đến sự thật, vươn đến trí tuệ giải thoát của con người.

Giới thứ năm là không uống rượu: Rượu là những chất làm mê man tâm trí con người, làm tiêu mòn dần trí tuệ của con người. Chính vì không có trí tuệ nên con người không đủ sức mạnh, không đủ khả năng kiềm chế thân tâm, để cho thân làm những việc điên đảo sát đạo dâm vọng, để cho tâm phóng túng đắm theo tham, sân, si gây biết bao nhiêu khổ đau cho mình và người. Uống rượu là nguyên nhân sanh ra mọi tội lỗi, nên đức Phật cấm không cho uống rượu. Nếu giữ giới không uống rượu, tâm trí con người không mê man, không điên đảo; dễ dàng làm chủ thân tâm, dễ dàng tỉnh táo đẻ nhận biết sự thật, nhận biết chân lý, có trí tuệ nhận biết được đâu là khổ đau, giải thóat. Mọi người trong xã hội đều không uống rượu, thường sống đúng với đạo đức luân lý của con người thì thế giới làm gì còn chiến tranh, loài người đâu phải chịu đau khổ. Không những như thế mà con người còn luôn luôn sống trong cảnh thái bình hạnh phúc. Có thể nói, giữ giới không uống rượu là nguyên nhân sinh ra con người có trí tuệ.

Năm giới ở trên được Phật trao truyền cho các hàng đệ tử. Nó đã được phổ biến rộng rãi trong tầng lớp nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay. Tuy chỉ sơ lược nhưng nếu mọi người hành trì năm giới này sẽ thấy được tác dụng thiết thực của nó. Công dụng hành trì năm giới mang lại lợi ích không phải nhỏ cho chính mỗi tự thân, từng gia đình, góp phần cải thiện tích cực đời sống nhân dân, cải thiện đời sống xã hội, cải thiện tư tưởng toàn nhân loại, đem lại hạnh phúc lớn lao vô cùng cho con người.

Tóm lại, từ xưa đến nay con người không thể phủ nhận được vai trò của đạo Phật trong việc cải thiện tích cực đời sống xã hội về mọi mặt. Đối với nhân loại nói chung, với dân tộc Việt Nam nói riêng, đạo Phật luôn luôn là nguồn suối tinh thần hòa nhập mọi tầng lớp và nuôi dưỡng con người trở nên thuần lương. Đạo Phật có được ưu thế đó chính nhờ tâm nguyện cao cả độ sanh của đức Thích Ca Mâu Ni. Ngài đã vận lòng từ bi, trí tuệ của mình, mở bày mọi phương tiện tiếp dẫn chúng sanh đến an vui giải thoát. Giáo lý của Ngài từ Ấn Độ truyền sang Việt Nam đã tạo nên một sức sống mãnh liệt trong lòng người dân Việt Nam. Đạo Phật đã thổi một linh hồn từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha vào đất nước con người Việt Nam, tạo nên sức mạnh vô uý. Sức mạnh vô uý ấy luôn được thể hiện rõ và phát huy cao độ trong những giai đoạn chiến tranh chống giặc ngoại xâm, chống các thế lực xâm lăng bên ngoài. Đó chính là động thái của con người Đất Việt, thấm đượm trong mình dòng máu vô uý của Phật giáo.

Là một người con Phật và nhất là Tăng Sĩ, chúng ta không thể lơ là trách nhiệm của mình mà phải phát huy hết khả năng trong công phu hành trì giới luật, trong sứ mạng xiển dương giáo pháp Như Lai, góp phần cải thiện xã hội.

topodin, Ua), &bull, Fotomag


Các bài viết khác

Gỡ bỏ những xung đột

Gỡ bỏ những xung đột

Xung đột dễ dàng tìm thấy trong thiên nhiên, như bóng tối của đêm 30 không trăng và ánh sáng của đêm trăng rằm. Nhưng nếu không có những đêm âm u tăm tối, chúng ta sẽ không thấy được giá trị của những đêm tràn ngập ánh trăng... 

Đạo đức và hạnh phúc

Đạo đức và hạnh phúc

Mọi người hẳn sẽ nhất trí với lời phát biểu rằng đạo đức là giá trị cao quý nhất đối với cuộc sống con người trong mọi thời đại, đặc biệt là thế giới ngày nay. Từ điển Graw Hill Book định nghĩa: Đạo đức là môn học đánh giá các hành vi thiện ác của con người biểu hiện qua thân, lời, ý và được thực hiện bởi ý chí...

Người đi chùa thông minh

Người đi chùa thông minh

Đi chùa tu học cần phải thiết lập trên nền tảng của văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ. Do biết lắng nghe và học hỏi, khiến cho tâm tuệ trong ta sinh khởi; do ta biết quán chiếu thâm sâu đối với những gì đã nghe và đã học, khiến cho cái nghe không ích lợi, không chính xác của ta từ từ bị đoạn tận, khiến cho tâm tuệ trong ta sinh khởi và lớn mạnh...

Tản mạn về nguồn gốc của vũ trụ và con người

Tản mạn về nguồn gốc của vũ trụ và con người

Tìm hiểu về nguồn gốc của vũ trụ và con người là vấn đề có từ thuở bình minh của lịch sử, văn hóa, tư tưởng của nhân loại. Nó khởi đầu từ tư duy phản tỉnh của người Homo Sapiens ở châu Phi của hai trăm ngàn năm trước Tây lịch, chậm nhất là từ văn minh chữ viết cách đây chừng năm ngàn năm...

Bắt đầu từ nơi đâu

Bắt đầu từ nơi đâu

Tôi vừa mới được quy y và bắt đầu học Phật, tôi thấy con đường này mênh mông quá. Tôi có một khó khăn là không biết mình nên bắt đầu từ nơi đâu đây? Những giáo lý về sanh diệt, tác ý, nghiệp quả, duyên sinh... cái nào cũng rất là quan trọng và cần thiết và tôi cũng được hướng dẫn ngồi thiền...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

3459955