Trang chính » Tham cứu » Triết học »

Duy biểu học giảng luận: Bài kệ thứ 02

Tác giả : Thích Nhất Hạnh

Đức Phật, ảnh TK

KỆ THỨ 2

Hạt giống có nhiều loại

Mê ngộ và khổ vui

Sanh tử và niết bàn

Danh xưng và Tướng trạng.

Hạt giống có đủ loại: đủ loại có nghĩa là không có loại hạt giống nào mà không có trong ta. Dù nó yếu hay mạnh, quan trọng hay không quan trọng đều có đủ hết. Hôm trước tôi có nói rằng chúng ta có hạt giống của sự trung kiên; điều đó không có nghĩa là không có hạt giống của sự phản bội, sinh tử và niết bàn, mê và ngộ và khổ vui. Tức là ta có hạt giống của sinh tử và niết bàn. Sinh tử ở đây có nghĩa là trôi lăn ngụp lặn trong khổ đau chứ không có nghĩa là sinh ra rồi chết đi. Đây có nghĩa là luân hồi là khổ cách này rồi khổ cách khác. Nói theo con nít Việt Nam “Giờ là khổ dài dài” không thoát ra được. Trôi lặn trong sinh tử.

Chúng ta không phải đợi năm sáu chục năm mới sinh tử một lần đâu. Mỗi ngày chúng ta có thể sinh tử hàng triệu lần. Sinh tử trong thân, sinh tử trong tâm, đau khổ lắm. Trong một giờ mà ta có thể sinh tử biết bao nhiêu kiếp. Chết rất nhiều lần trong một giờ đồng hồ khổ đau vô lượng. Thành ra sinh tử là khía cạnh khổ đau của sự sống trong đó có sự sợ hãi, căm thù, buồn khổ thì gọi là sinh tử. Niết-bàn là cái ngược lại là sự chấm dứt sinh tử, sự mát mẽ, sự không sợ hãi, sự vững chải. Chúng ta có đủ hạt giống của sinh tử, đủ hạt giống của niết bàn. Hai loại hạt giống đó không hẳn nó chống bán nhau trong ta có đánh giặc với nhau. Đừng có tưởng tượng là Niết-bàn và sinh tử đang đánh giặc trong ta. Cũng giống như ta không nên tưởng hoa và rác đang đánh giặc với nhau. Tại vì rác khác với hoa. Nhìn sâu thì ta thấy rằng trong rác có hoa. Ta cũng biết trong hoa có rác nếu ta không khéo không sống cho có chánh niệm thì hoa biến thành rác rất mau chóng. Không những trong hoa có rác mà ngay trong rác có hoa. Nhưng mà rác chưa biểu hiện đó thôi. Nếu mình người phàm phu thì đợi mười ngày sẽ thấy hoa là rác. Còn người thực tập tỉnh thức thì đã thấy ngay trong hoa có rác, ta thấy rác ngay trong tự tính bất nhị niết bàn của nó. Thành ra người người mê nhìn hoa chỉ thấy hoa thôi, người ngộ thì thấy trong hoa có rác. Không sợ rác gì hết, tại vì biết rằng nếu không có rác thì làm gì có hoa. Thành ra khi cầm hoa trong tay thì biết ơn rác chớ không hẳn mình phải thù rác vì vậy hoa không thù rác đâu, chỉ có mình u mê cho nên mình mới thù rác.

Chúng ta nhìn Bụt và nghĩ rằng Bụt với Ma là hai kẻ thù không nhìn mặt nhau. Đó là ta nhìn bằng con mắt phàm tục. Nếu ta nhìn bằng con mắt tĩnh táo thì ta có thể thấy Bụt và Ma Vương có thể nắm tay nhau đi thiền hành rất là thân ái. Ngày xưa tôi dã viết một bài về cuộc viếng thăm Bụt và Ma Vương. Hồi đóThầy A Nan chưa giỏi nên không muốn Bụt gặp Ma nhưng bây giờ Thầy giỏi rồi. Trong khi Đại Thừa có nói “Niết bàn sinh tử thị không hoa” có nghĩa là Niết-bàn và Sinh Tử là hoa đốm giữa hư không. Trước hết là chính tại ý niệm sai của mình cho là hai cái đó chống bán nhau. Thật ra mình phải sử dụng chất liệu Sinh Tử để làm Niết-bàn và Niết-bàn làm chất liệu để làm ra Sinh Tử. Cũng giống như hoa và rác. Nếu thấy được như vậy thì mình không còn sợ hãi nữa.

Trong tâm thức của mình có chứa đựng những hạt giống của Niết-bàn và Sinh tử mà mình chỉ có thể tìm Niết-bàn trong Sinh Tử thôi. Có một Thiền sư Việt Nam thời Lý vào một hôm tới hỏi Thầy: “Thầy dạy con phải tìm cảnh giới không sinh tử thì con phải đi tìm cảnh giới không sinh tử ở đâu?” vị Thiền sư trả lời: “Con đi tìm ngay ở chỗ sinh tử đó”. Tại vì anh trốn chạy rác nên không bao giờ anh tìm ra hoa cả. Thành ra những cái buồn của mình có thể tạo ra sự an lạc hạnh phúc của mình. Trong cái buồn cái giận cái khổ của mình, nếu mình biết sử dụng ba cái chìa khóa mà Bụt trao cho là Vô thường, Vô ngã, Niết-bàn để mở cửa thực tại thì mình sẽ tìm thấy Niết-bàn, vững chải, an ổn ngay trong cái sợ hãi sầu khổ của mình. Vì vậy trong Đại Thừa có câu: Phiền não tức Bồ đề. Thường thường phiền não là ngược lại với Bồ đề, là u mê tham giận, kiêu căng. Bồ đề là sự giác ngộ nhưng chính trong cái phiền não mình mới thấy được sự giác ngộ an lạc vững chãi. Cho nên khi nói rằng tôi đi tìm an lạc đi tìm Niết-bàn thì phải diệt cho hết những phiền não của tôi đi, như vậy là người chưa thấy được nguyên tắc của sự hành đạo. Như vậy là sai, giống như khi người làm vườn vừa có cọng rác nào là đem vứt đi hết tới khi muốn có phân để trồng trọt thì không còn gì. Như vậy người đó không biết làm vườn. Khi biết được điều đó thì mình không còn sợ phiền não nữa.

Hạt giống có nhiều loại, sinh tử và Niết-bàn, mê, ngộ và khổ, vui. Chúng ta có hạt giống mê, nhưng cũng có hạt giống ngộ. Nếu chúng ta ham tưới những hạt giống mê thì nó sẽ mọc lên tươi tốt. Sống trong đời ai mà không có đi qua những cơn mê. Nhưng những cơn mê đó được nuôi dưỡng hoài bởi sự tươi tắn. Nhưng mê hoài rồi thì cũng đến giai đoạn tỉnh. Tỉnh tức là có Ngộ. Sở dĩ ta tỉnh được vì có những hạt giống ngộ trong mình. Theo giáo lý Duy Biểu thì ta có hạt giống ngộ, ta đừng có lo. Đôi khi những đau khổ do cơn mê nó giúp ta tiếp xúc được những hạt giống của ngộ nên chúng ta tỉnh dậy, mê và ngộ không hẳn là kẻ thù. Thương thường đại mê là đại ngộ. Càng mê nhiều thì ngộ càng lớn. Đại nghi thì đại ngộ, đại mê thì đại tỉnh. Chúng ta có hạt giống của mê ngộ và khổ vui. Hạt giống, đủ thứ khổ và đủ thứ hạt giống của niềm vui. Những vui thật sâu sắc, những vui thật cạn cợt che dẫu những nỗi khổ lâu dài.

Danh xưng và tướng trạng. Danh xưng là một loại hạt giống. Tướng trạng là một loại khác. Danh xưng là tên gọi của một sự vật. Trong tâm thức, tàng thức của ta, ta có đủ thứ hạt giống về tên gọi, ví dụ ta có một hạt giống của tên gọi cái này là núi cái kia là sông người tỉnh là Bụt, người mê là Ma, người như vầy thì gọi là cha, người kia là mẹ. Đó là những hạt giống về danh xưng. Đối với loại người những hạt giống về danh xưng rất quan trọng. Mỗi hạt giống về danh xưng có thể làm phát khởi trong ta những hạt giống khác. Gọi là hạt giống về tướng trạng. Danh xưng có gốc từ nhĩ thức (audio) và tướng trạng có gốc từ nhãn thức, hình ảnh (visue). Bản dịch tiếng Anh bài kệ thứ hai There are different varieties of seeds: seeds of samsara of nirvana, of delusion, of elightenment, seeds of sufferings, of happiness, seeds of names and words, seeds of perceptions (images).

Ví dụ trong tàng thức chúng ta đang có hạt giống vừa danh xưng Paris mà cũng vừa tướng trạng Paris. Vừa có người động đến chữ Paris tức là họ động đến hạt giống danh xưng Paris thì ta có thêm về hình ảnh Paris như là tháp Eiffel, nhà thờ Notre Dame. Đó là hạt giống tướng trạng ta đang nằm trong tàng thức ta đầy đủ hết. Đứng về phương diện Phật học thì chúng ta có rất nhiều hạt giống về danh từ Phật giáo. Có những danh thì rỗng nó không có nội dung, có những danh từ ta không hiểu hay hiểu lầm ví dụ như danh từ thức đó, ta chưa hiểu hoặc hiểu sai lầm về thức. Những tướng trạng những đối tượng của tri giác nó nằm trong tâm thức của chúng ta có thể là nó rất xa vời sự thực, có thể nó hoàn toàn do sự tạo dựng, tưởng tượng của tâm thức ta. Ta không biết được không thấy được ranh giới giữa cái sự thực và những điều mà mình tiếp nhận bằng tri giác. Ví dụ khi ta nói đến danh từ Bụt đó hiện ra từ một hạt giống mà ta tiếp nhận khi nhìn một tượng Bụt lúc còn bé thơ, những điều mà ta đọc được trong sách về Bụt. Nội dung của tri giác chúng ta về Bụt nó được cất chứa trong tâm chúng ta. Nhưng mà bụt đó có phải là Bụt tự thân hay là hình ảnh của Bụt mà chúng ta có trong tâm và chúng ta gán cho đó là Bụt của thực tại. Ta vì hồi ba bốn tuổi chúng ta có một ý niệm về Bụt. Nhưng ta đi vào chùa được nghe dạy về Bụt thì cái ý niệm ngây thơ về Bụt biến mất và cho ta có ý niệm rõ rệt hơn về Bụt nhưng chưa chắc ý niệm đó đã phù hợp của thực tại. Cho nên đối tượng của những tri giác của chúng ta mà ta cất giữ trong tâm, có tính chất “Thức biến” tạo tác của tâm thức nhiều hơn sự thật. Ví dụ người mà ta thương, đối tượng của sự thương yêu của chúng ta có thể là nó không giống với cái người trong thực tại. Chúng ta tạo ra những hình ảnh này hình ảnh nọ về người đó, chúng ta lý tưởng hóa người đó, chúng ta thấy người đó đẹp hơn là trong thực tại.

Khi mà ta ghét cũng vậy, ta tạo tác ra một hình ảnh về người ta ghét trong tâm ta. Nghe đến tên người đó thì sân si đùng đùng nổi dậy và những hình ảnh dễ ghét của người đó nổi dậy. Nhưng mà cái hình ảnh đó chưa chắc nó đã phù hợp với thực tại. Thành ra ta cất chứa tất cả cái hình ảnh sai đó. Có thể ta đang sống trong một vũ trụ đầy dẫy những sai lầm ảo tưỏng vậy mà chúng ta cứ tưởng rằng chúng ta đang tiếp xúc thật sự với thế giới, với loài người và những loài khác. Có thể là chúng ta rất thương kính Bụt và ta nghĩ rằng khi gặp Bụt ta sẽ lạy xuống liền và đi theo Ngài không rời một giây phút nào hết để nghe Ngài thuyết pháp dạy dỗ… nhưng có hể rằng ngày mai chúng ta đi gặp bụt ở Sainte Foy thì chúng ta không thèm nhìn, tại vì chúng ta có một hình ảnh về Bụt khác. Mà Bụt chúng ta gợp ở Sainte Foy có thể là Bụt thật nhưng chúng ta không thèm để ý tới. Bụt nói câu gì chúng ta cũng cải lại, chúng ta nói ông nói tầm bậy tầm bạ, tại vì mình có trong tâm những hạt giống tri giác sai lầm mà mình chắc mẩm là đúng. Ví dụ như mình chắc mẩm là Bụt thì có hào quang, mặc áo vàng khoát y thật đẹp. Tới chừng khi gặp Bụt mặc áo sơ mi thì mình đâu có chịu. Bụt gì mà mặc áo sơ mi? Bụt gì mà không có hào quang? Vì vậy cho nên ta nên biết cái tri giác, cái tưởng của chúng ta đưa vào trong tâm thức chúng ta nhiều hạt giống về danh xưng về tướng trạng và chúng ta sống với thế giới đó. Và chính vì cái thế giới mà chúng ta tự tạo tác bằng những ảo giác đó, nó ngăn che không cho ta tiếp xúc với sự thật khi sự thật đến gần.

Ngay chính nhận thức của ta đối với chúng ta cũng vậy. Ta có thể có một tri giác rất sai lầm về chính ta. Có khi ta thù ghét ta, ta khinh miệt ta mà thật ra có thể ta không như vậy. Ta có những khả năng những tài ba những yếu tố mà ta vì những trở lực ngăn che nào đó ta không tiếp xúc được. Vì vậy, thường thường là ta có một cái hình ảnh rất méo mó về chính ta, rất méo mó về người và về sự vật. Này nhé ta thử xem xét vại cái kho tàng thức của ta xem có bao nhiêu danh từ (danh xưng) và hình ảnh (tướng trạng) về người và về vật. Ví dụ như ông Bush. Ta biết gì về ông Bush? Chúng ta có những tri giác trực tiếp nào về ông Bush? Những cái thương cái ghét của chúng ta về ông Bush có rất nhiều. Đôi khi cũng cái thương ghét đó căn cứ tren một ý niệm do sách báo do tuyên truyền mà có. Ta nghe nói về Lý Thường Kiệt, về Tổng thống Miterand, về núi Alpes, núi Pyrenées, núi Phú Sĩ, về sông Cửu Long. Tất cả những thứ đó đều có danh xưng và tướng trạng cả; Và hễ chúng ta có danh xưng thì chúng ta tin chắc rằng chúng ta có cái thực tại mà cái danh xưng đó đại diện. Đó là điều rất sai lầm. Hễ chúng ta có cái danh xưng cất ở trong lòng ta thì ta có ảo tưởng rằng ta có sự thật mà danh xưng đó đại diện. Tổng thống Bush à? Tôi biết quá mà! Thật ra thì ta không biết gì hết về ông Bush hết. Mình chỉ có tên ông Bush và một vài cái người nói qua nói lại về ông Bush. Bụt cũng có thể như vậy. Có thể mình chưa biết được về Bụt ra sao cả. Mình chỉ nghe nói và có danh từ về Bụt và dựng lên một hình ảnh về Bụt khác xa thực tại về Bụt. Đối với chính mình cũng vậy, chính mình cũng chưa biết thấu đáo về mình. Cho nên tập quán sát về cái tưởng, về cái tri giác của mình rất quan trọng. Nước Pháp là một danh xưng. Danh từ nước Pháp làm hiện trong ta một quốc gia, hình ảnh của quốc gia đó, tri giác về quốc gia đó, đứng về phương diện lãnh thổ, dân chúng tính tình phong tục tập quán, kinh tế có thể ta không biết nhiều nhưng tại vì chúng ta có đặt chân trên nước Pháp nên ta có cảm tưởng ta biết nước Pháp là cái gì. Có thể cái biết đó rất sai lầm, rất xa lạ với cái thực tại nước Pháp.

Ngay chính nước Việt Nam cũng vậy, có thể cái tri giác của chúng ta về nước Việt Nam rất là sai lạc nhưng ta cứ chắc là ta biết nước Việt Nam là gì. Tướng là hình ảnh về thực tại mà hình ảnh đó ta nắm được là do tưởng, tức là tri giác (chủ thể). Tướng của núi Phú Sĩ, núi Pyrénées núi Hy Ma. Tướng là tri giác và tướng là đối tượng của tri giác. Perceptino, tri giác ta có hai phần chủ thể và đối tượng. Đối tượng sai lạc thì chủ thể cũng sai lạc. Đối tượng méo mó thì chủ thể cũng méo mó. Khi mà ta có tri giác sai lầm thì nó tạo không biết bao nhiêu vấn đề. Chúng ta hiểu lầm, nhận lầm. Tất cả những đau khổ của chúng ta đều phát sanh ra từ những nhận thức sai lầm của chúng ta về sự vật chúng ta có được bao nhiêu đâu, chúng ta chỉ có một số danh từ về cái đó. Còn hình ảnh mà ta có về cái đó thì quá xa lạ và sai lạc với sự thật về cái đó. Vậy mà chúng ta cứ cương quyết là chúng ta biết rõ rồi, biết thật rồi, chúng ta nắm vững về sự thật đó, là chúng ta biết tất cả rồi! Tất cả những đau khổ của chúng ta đều từ chỗ đó mà phát sinh, chỗ tri giác (Wrong Perceptions). Tri giác sai lầm gây ra cảm thọ khổ đau. Người đó ghét mình, không có thèm nhìn mình, người đó không công nhận sự có mặt của mình, người đó muốn tiêu diệt mình. Toàn là những tạo tác cường điệu của tâm thức mà thôi. Cho nên Thiền tập là để đi tới những tri giác chính xác hơn. Và nếu tin chắc tri giác mình là đúng thì rất nguy hiểm. Luôn luôn phải khiêm nhường tự hỏi: tri giác tôi đã chính xác chưa? Nó gần với sự thật được mấy mươi phần trăm? Luôn luôn phải cho mình một không gian để cho tri giác mình được sâu sắc vững chãi hơn.

Có hai loại tướng: tướng riêng là tự tướng và tướng chung là cộng tướng. Có nhiều loại tướng. Có khi ta nói đến sáu tướng có khi nói đến bốn tướng và có khi nói đến hai tướng. Hôm nay ta chỉ nói đến hai tướng thôi: tự tướng và cộng tướng. Ví dụ khi ta nói ngựa. Ngựa là cộng tướng. Bất cứ con ngựa nào cũng đều được gọi là ngựa. Nhưng khi người ta nói đến con Kiền Trắc hoặc Xích Thố thì nó đặc biệt ta không coi là cộng tướng được vi chỉ có một con ngựa tên Kiền Trắc hay Xích Thố thôi. Trong triết học Trung Hoa người ta nói ngựa trắng không phải là ngựa. Tại vì có nhiều loài ngựa: ngựa ô, ngựa đen, ngựa vàng… ngựa trắng là một loại ngựa quá đặc biệt nó không phải là ngựa nữa. Ngựa là cộng tướng nhưng ngựa trắng đã có tính cách tự tướng rồi. Chúng ta sẽ đi từ từ vào ý niệm về tướng chung và tướng riêng trong những bài sau.

(GIẢNG LUẬN DUY BIỂU HỌC 

Nhất Hạnh

Lá Bối Xuất Bản 1996)


Các bài viết khác

Thư mời và chương trình Pháp hội Vu Lan – Húy kỵ Tôn Sư năm 2017 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Thư mời và chương trình Pháp hội Vu Lan – Húy kỵ Tôn Sư năm 2017 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Tứ chúng chùa Phước Long noi gương đại hiếu của ngài Mục Liên Tôn giả, tổ chức Pháp hội Vu Lan tu tập 7 ngày để hồi hướng phước báo đến Phụ mẫu sinh thành, thân bằng quyến thuộc còn tại thế thân tâm yên ổn; và cầu siêu Cửu huyền Thất tổ nhờ Phật lực và sức chú nguyện của chư Tăng trong ngày Tự tứ được siêu sinh Lạc quốc...

Chùm ảnh đổ bê tông sàn mái công trình Tổ đường – Trai đường chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Chùm ảnh đổ bê tông sàn mái công trình Tổ đường – Trai đường chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Chúng con được chút ít duyên lành được kế thừa di huấn chư vị tôn túc truyền thừa, tiếp tục đốt đèn thiền mà đi vào cõi tạm, hướng dẫn tứ chúng tu học ngõ hầu tìm về bảo sở. Ngôi nhà tâm linh đang xây dựng thì bên cạnh đó ngôi chùa cũng trải qua thời gian xuống cấp trầm trọng, không đủ an toàn để tứ chúng nương tựa tu tập...

Bắt đầu từ nơi đâu

Bắt đầu từ nơi đâu

Tôi vừa mới được quy y và bắt đầu học Phật, tôi thấy con đường này mênh mông quá. Tôi có một khó khăn là không biết mình nên bắt đầu từ nơi đâu đây? Những giáo lý về sanh diệt, tác ý, nghiệp quả, duyên sinh... cái nào cũng rất là quan trọng và cần thiết và tôi cũng được hướng dẫn ngồi thiền...

Hạnh nguyện đức Bồ tát Quán Thế Âm

Hạnh nguyện đức Bồ tát Quán Thế Âm

Hiện tướng bản thể vũ trụ là một trò chơi vừa có tính thực và bất thực, hay vừa có tính hòa âm và bất hòa âm. Nếu người biết được trò chơi này, là người nắm được thực tại trên mười đầu ngón tay; thì trái lại, kẻ không nắm được thực tại trên mười đầu ngón tay, kẻ đó không biết được hòa âm vũ trụ trong trò chơi này...

Thư mời tham dự lễ vía đức Quán Thế Âm Bồ tát năm 2017 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Thư mời tham dự lễ vía đức Quán Thế Âm Bồ tát năm 2017 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Ngày 12.07.2017 (nhằm ngày 19.6.Đinh Dậu), nhân ngày lễ vía đức Quán Thế Âm Bồ tát, chùa Phước Long, số 33 Trần Quang Diệu, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tổ chức khóa lễ tu tập, Bổn tự kính mời tất cả đại chúng về tham dự...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Cố trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Quốc sư Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh - Viện chủ chùa Tân Tân, An Nhơn, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu - Trụ trì Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • Thầy Thích Huyền Châu - Viện chủ Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978)
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973)
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978)
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897 - 11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT.  Thích Tịnh Khiết (1890 - 1973) - Cố Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Phước Thành (1918 - 2013), Trưởng lão Tăng già Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878 - 1979) - Cố Đệ Nhị Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927 - 2005) - Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904 - 1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định đương vi trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Cao tăng miền Bắc Việt Nam
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992) - Cố đệ tam Tăng thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008) - Cố Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Kế Châu (1922 - 1996) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp Di Đà, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982) - Đệ nhất trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Câu chuyện ẩn dụ về bốn bà vợ

Câu chuyện ẩn dụ về bốn bà vợ

Từ trên đỉnh cao của danh vọng và quyền thế, ông quên hẳn mặt trái của xã hội, cái mặt dàn trải đầy dẫy những hoàn cảnh khổ đau đói khát, cơm không có mà ăn, co ro trong manh áo rách cho qua đêm Đông rét mướt...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

573361