Trang chính » Dịch thuật »

Hệ thống giáo dục Phật giáo trong chủng viện tại Tích Lan

Tác giả : NT dịch

Budda's nibbana, ảnh St

Đức Phật được xem như là một nhà giáo dục, và mục đích duy nhất của ngài là truyền bá chân lý cuộc đời như chính ngài đã hiểu rõ về nó. Trong kinh Thánh Cầu thuộc kinh Trung Bộ, đức Phật trình bày một cách rõ ràng rằng thông qua việc phổ biến giáo lý của ngài, ngài đã mang hạnh phúc đến cho nhân loại. Trong khi đó, trong văn học Phật giáo coi việc giáo dục là nguyên nhân cao quý, ngài chủ trương chỉ dạy những gì cần thiết. Trong kinh Giáo Giới La Hầu La ở rừng Ambala thuộc kinh Trung Bộ, ngài khuyên La Hầu La nên tìm hiểu để học những vấn đề về lợi ích cho sự tiến bộ của chính mình và xã hội. Về vấn đền này, đức Phật coi kỷ luật là một điều kiện tiên quyết cho giáo dục, ngài xem như là một quá trình mà trong đó cha mẹ, tăng sĩ cũng như sinh viên nên bình đẳng. Điều này dẫn đến một truyền thống giáo dục và sản sinh ra các trường đại học Phật giáo đầu tiên ở Ấn Độ và Chủng viện ở Tích Lan, nó đào tạo cho cả tăng sĩ và Phật tử.

Để thực hiện đúng kỷ luật yêu cầu, những sinh viên chủng viện phải ở trong hệ thống trực thuộc của trường trong suốt khóa học. Như trong Luật tạng có đề cập, Tăng sĩ phải giữ 220 giới bao gồm những việc như thức dậy trước Sư phụ, quét dọn sạch sẽ tự viện, chăm sóc những vị trưởng lão và phải kính trọng những huynh đệ cùng làm việc với nhau cũng như khách thập phương. Các sinh viên phải nghe lời và chịu sự hướng dẫn của Sư phụ. Mặt khác, giáo sư phải có trách nhiêm hướng dẫn sinh viên tuân theo kỷ luật và kiến thức chính xác cũng như những nhu cầu cần thiết khác. Ví dụ, trong kinh Rừng Sừng Bò thuộc kinh Trung Bộ nói rằng: Đức Phật đã ngăn cấm việc giảng dạy khi sinh viên đói bụng, quy luật này được đức Phật chỉ giáo và được thực hành trong hệ thống giáo dục Chủng viện cho đến ngày nay.

Hệ thống giáo dục chủng viện tại Tích Lan trước thế kỷ 16 được những đoàn truyền giáo thực dân Anh truyền vào khoảng 1400 năm. Thuật ngữ “Pirivena” là biến thể Sinhalese của từ Pali “Parivena” có nghĩa là nơi cư trú chính thức của tăng già, theo Thanh Tịnh Đạo luận được viết bởi ngài Phật Âm tại Tích Lan (vị tăng sĩ người Ấn Độ năm 430), thì thuật ngữ này ngụ ý là “cùng sống trong một khung viên lớn”. Một vị tăng hành hương người Trung Quốc, ngài Pháp Hiển (337-422) trình bày chuyến hành hương của mình về việc đến thăm chủng viện đầu tiên ở Tích Lan là Đại Viện và Vô Úy Sơn tự trong vương quốc Anuradhapura (337-1017) thì lúc đó có khoảng 3000 nhà ở tương đương có 5000 tăng sĩ Phật giáo. Chủng viện được xem là một truyền thống giáo dục nghiêng về chất lượng, đóng góp cho xã hội cũng như giá trị lịch sử của nó.

Truyền thống chủng viện trở về thế kỷ thứ nhất, khi Đại viện và Vô úy Sơn tự được ủy quyền thông qua sự bảo trợ của hoàng gia. Những chủng viện khác được xây dựng khắp trên đảo với sự cai trị của những vị vua tiếp theo. Những nhà lãnh đạo ở Tích Lan và tu sĩ Phật giáo coi việc giáo dục ở chủng viện trong xã hội Phật giáo thì vô cùng quan trọng. Việc giáo dục chủng viện có kết quả đáng kể trong việc không chỉ truyền bá Phật giáo trong nước mà còn ở nước ngoài.

Khi Phật giáo ở Ấn Độ suy tàn, những trường Đại học Phật giáo như Na Lan Đà cũng trở nên xấu đi, và các hình thức truyền thống giáo dục cũng không còn ở đó. Tuy nhiên bất chấp nhiều cuộc xâm lược Ấn Độ, việc giáo dục ở chủng viện tại Tích Lan vẫn chiếm ưu thế qua nhiều thế kỷ. Giáo trình học tại trường được chia làm hai phần, phần Suta bao gồm những môn học như: ngôn ngữ, tôn giáo, triết học, lịch sử, kinh tế và địa lý trong khi phần Sippa bao gồm những kỹ năng như nông nghiệp, chiêm tinh và thợ mộc. Hệ thống này đạt tiêu chuẩn và có phương pháp, nó được tìm thấy từ những học giả đến viếng thăm như Thái Lan, Campuchia và Miến Điện, lần gần nhất là vào khoảng thế kỷ 15.

Tích Lan đã chịu sự xâm lược của thực dân từ năm 1505 trở đi, khi người Bồ Đào Nha đến bờ biển của vương quốc Kotte (1415-1565). Sau khi sự chuyển đổi của vua Dharmapala sang Kitô giáo (1551-97) thì sự ủng hộ của hoàng gia cho việc giáo dục Phật giáo không còn. Với sự tàn phá tiếp theo của những ngôi chùa và cầu trúc chủng viện cùng với các truyền thống, hệ thống giáo dục chủng viện có sự suy giảm nhanh chóng trong khu vực ven biển Tích Lan. Người Bồ Đào Nha, Hà Lan và cuộc xâm lược Anh đã dẫn đến sự thay đổi liên tục các vương quốc tại Tích Lan, sự thay đổi trong nội bộ ảnh hưởng đến quyền lãnh đạo chủng viện và nơi cư trú tăng già cũng phải chuyển đổi như vậy. Tuy nhiên, giáo dục chủng viện trong vương quốc Kandy (1469-1815) vẫn tiếp tục hoạt động để chống lại các cuộc xâm lược cho đến khi nó rơi vào tay thực dân Anh năm 1518. Ngay cả trong thời điểm của sự biến động, tăng già vẫn tiếp tục hướng tới chủng viện để làm việc.

Hiện nay, có ba cấp độ chủng viện tại Tích Lan, đều giáo dục cho cả Tăng sĩ và Phật tử. Ở cấp độ tiểu học (mulika), họ được học năm năm trong đó sinh viên phải học sáu môn như Pali, Phạn ngữ, Sinhala (tiếng của người Sri Lanka), tiếng Anh, nghiên cứu Tam tạng kinh và toán học, sau đó phải trải qua kỳ khảo sát thì có thể tiếp tục nghiên cứu cấp cao hơn tại chủng viện (Maha), ở cấp độ này sinh viên tiếp tục nghiên cứu sáu môn như cấp tiểu học và thêm những môn khác như triết học, lịch sử của các tôn giáo, ngôn ngữ học, Ayurveda và chiêm tinh học. Với trình độ kiến thức ở cấp độ này, sinh viên tại chủng viện có thể vào cấp Đại học (Vidyayathana) hoặc liên kết với các trường cao hơn. Chủng viện này được công nhận đầu tiên bởi chính phủ Tích Lan năm 1957 và vào năm 1959 chủng viện Vidyodaya Vidyalankar của Colombo được đưa vào Đại học. Hiện nay, có khoảng 794 chủng viện trên đảo, giáo dục xấp xỉ 62000 sinh viên.

Hệ thống chủng viện thì khác với giáo dục chính thống, như trong câu chuyện tiền thân của đức Phật thứ 362, Silvaimansa Jataka trong chuyện Thử Nghiệm Đức Hạnh (Tiền thân Silavimansa) nói rằng: “Sự nghi ngờ đã nảy sinh trong ta vì hai thứ: việc học và kỷ luật cái nào nghiêm trọng hơn. Ta không nghi ngờ rằng kỷ luật thì tốt hơn việc học”. Lý thuyết hiện nay của những người ủng hộ giáo dục cho rằng việc học thì được áp dụng trước còn kỷ luật thì phải dạy đúng cách. Tuy nhiên, kiến thức được truyền đạt không đúng chỗ sẽ tạo ra kết quả vô cùng tai hại. Như nhà ngoại giao và chính trị gia Trung Quốc, Ngũ Đình Phương (1842-1922) nói rằng: “Giáo dục như là con dao hai lưỡi, nó có thể gây ra nguy hiểm trở lại nếu người sử dụng không đúng cách”. (OECD 2007, 75). Trong trường hợp này các hệ thống giáo dục của chủng viện, thì kỷ luật là một yêu cầu cần thiết, có lẽ như nó là một mô hình của giáo dục hiện đại.

(Source: buddhistdoor.com)


Các bài viết khác

Tại sao Google tìm cầu tuệ giác nơi thiền sư Thích Nhất Hạnh

Tại sao Google tìm cầu tuệ giác nơi thiền sư Thích Nhất Hạnh

Chúng ta cần phải xem lại quan niệm của chúng ta về hạnh phúc. Chúng ta nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có được khi nào chúng ta giành thắng lợi, khi chúng ta giành được vị trí đứng đầu. Tuy nhiên, sự thực thì không cần thiết phải như vậy...

Phật giáo đóng góp như thế nào cho vấn đề môi trường

Phật giáo đóng góp như thế nào cho vấn đề môi trường

Đối với Phật giáo, nhân loại, sinh vật và phi sinh vật về căn bản được xem là bình đẳng trong các cấp độ sinh mệnh (life levels). Thuật ngữ các cấp độ sinh mệnh không những chỉ cho ý nghĩa thông thường là mạng sống...

Thay đổi cấu trúc não bộ từ việc hành thiền

Thay đổi cấu trúc não bộ từ việc hành thiền

Tiến sĩ Britta Holzel chia sẻ: “Thật thú vị khi xem tính mềm dẻo của não bộ và thông qua thực hành thiền định, chúng ta có thể đóng một vai trò tích cực trong việc thay đổi bộ não và có thể làm tăng sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của mình...

Ý nghĩa chữ ‘Không’ trong Trung Quán luận

Ý nghĩa chữ ‘Không’ trong Trung Quán luận

Vị luận sư nổi tiếng Thế Hữu cho rằng: Không và vô ngã không giống nhau, vô ngã là cứu cánh liễu nghĩa, không, không phải là cứu cánh liễu nghĩa. Như nói ngũ uẩn là vô ngã, là triệt để, chính là vô ngã; nếu nói ngũ uẩn là không, thì không triệt để...

Tham thiền cùng niệm Phật

Tham thiền cùng niệm Phật

Tâm khởi niệm thích thú hay chán chường rõ rệt, nên cứ bị vọng tưởng thô và tế bó buộc. Lại nữa, nếu dụng công phu như băng giá đóng đá gạch thì không thể khởi tác dụng. Kế đến, dần dần sẽ sanh bệnh giải đãi, rồi cuối cùng không thể đắc quả khởi dụng...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Cố trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Quốc sư Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh - Viện chủ chùa Tân Tân, An Nhơn, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu - Trụ trì Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • Thầy Thích Huyền Châu - Viện chủ Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978)
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973)
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978)
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897 - 11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT.  Thích Tịnh Khiết (1890 - 1973) - Cố Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Phước Thành (1918 - 2013), Trưởng lão Tăng già Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878 - 1979) - Cố Đệ Nhị Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927 - 2005) - Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904 - 1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định đương vi trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Cao tăng miền Bắc Việt Nam
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992) - Cố đệ tam Tăng thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008) - Cố Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Kế Châu (1922 - 1996) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp Di Đà, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982) - Đệ nhất trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Câu chuyện ẩn dụ về bốn bà vợ

Câu chuyện ẩn dụ về bốn bà vợ

Từ trên đỉnh cao của danh vọng và quyền thế, ông quên hẳn mặt trái của xã hội, cái mặt dàn trải đầy dẫy những hoàn cảnh khổ đau đói khát, cơm không có mà ăn, co ro trong manh áo rách cho qua đêm Đông rét mướt...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

449714