Trang chính » Phật học » Luật »

Không nên bỏ Bát kỉnh pháp

Tác giả : Đại Đức Thích Minh Hành

Bồ tát Văn Thù

Nhân tiện chúng tôi đọc được bài giảng “Giáo đoàn tỳ kheo Ni và bát kỉnh pháp” của TS Nhật Từ đăng trên trang Đàm thoại Phật giáo. Đây là bài giảng gây nhiều bức xúc nhất trong hàng Tăng sĩ thực tu, thực học của Việt Nam.

Đọc qua bài giảng chúng tôi cảm nhận, TS Nhật Từ đã rào đón rất kỷ trước khi giảng và khai triển về đề tài này. Bởi lẽ, đây là một đề tài không dễ, do đề tài có tính lịch sử, tính truyền thống, gắn liền quyền lợi tu học của Ni giới và đặc biệt hơn nữa văn bản Bát kỉnh pháp, thể hiện tầm nhìn “trí tuệ” của người đưa ra văn bản này.

Chúng tôi không có tham vọng, phân tích, lý giải, hoặc dẫn chứng các văn bản luật tạng để đưa ra một kết luận. Bởi vì, khi chúng ta đang còn là một vị phàm phu, cái nhìn của chúng ta chưa thật sự, thấu đáo, rốt ráo và cũng chưa hiểu hết những tánh nết “trượng phu” ẩn tàng trong tâm tư của người nữ. Thứ hai, trí tuệ và đức độ của chúng ta chưa đủ để thay đổi những điều khỏan đó. Trong khi đó những điều khỏan ấy lại giúp cho Ni giới có chổ đứng trong lòng xã hội hơn hai ngàn năm trăm năm nay, đặc biệt là các Ni giới theo truyền thống đại thừa. Thứ ba, đã có rất nhiều bài viết và bài giảng của các vị hành trì luật tạng ở những thập niên trước của thế kỷ 20, và ngay trong diễn đàn này cũng có những bài viết tương tự.

Trở lại vấn đề, Bát kỉnh pháp không phải là đề tài mới lạ xưa nay trong Phật giáo, chư lịch đại Tổ sư và các vị thức giả, chưa một ai dám lên tiếng phủ nhận bát kỉnh pháp là không phải Phật nói, có mới lạ chăng là cách triển khai và lý giải nó như thế nào, để thấy được nguyện vẹn hàm ý và giá trị đích thực của nó, ngõ hầu giúp cho Ni chúng có cơ hội, tiếp cận và tu tập theo giáo pháp của Đức Thế Tôn.

Thế nhưng, những vị “hậu sinh khả úy” ngày này lại dám dùng những phương pháp luận, phương pháp tỷ giảo…để vội vàng đưa ra một kết luận thật đáng buồn.

Sự tìm tòi, khám phá, phát hiện những tư liệu mới trong quá trình làm công tác giáo dục là điều đáng trân trọng và khích lệ, nhất là những người trực tiếp giảng dạy kinh, luật, luận cho Tăng Ni thế hệ kế thừa. Điều quan trọng nhất là những vị giáo thọ dạy về luật tạng. Bởi lẽ, chưa có một môn dạy nào khó khăn như dạy môn luật trong Phật giáo. Ngoài những kiến thức cơ bản, phổ thông và những phương pháp truyền đạt, người dạy luật cần phải có những “trăn trở mang chất tu học” mới có thể tìm ra những nguyên nhân sâu xa về việc đức Phật chế giới, đồng thời người dạy luật phải thực sự là người thường xuyên hành trì giới luật mới thấy được cái hay, cái cần thiết của việc chế giới, trong đó có bát kỉnh pháp.

Có lẽ không ai bàn cải nhiều, nếu như phân tích và giải thích bát kỉnh pháp theo truyền thống xưa nay. Đặt lại và làm mới vấn đề là điều được nhiều người quan tâm và theo dõi, nhất là những người muốn tìm hiểu và khám lịch sử. Trong đó duyên khởi và  lợi ích thiết thực của bát kỉnh pháp đối với Ni giới cũng là một điều khá quan trọng. Bởi lẽ, sự sinh tồn của ngôi nhà Phật pháp hơn hai ngàn năm trăm năm cũng chỉ dựa vào những văn bản luật nghi. Mặc dầu thời thế có thay đôỉ, vận mệnh cuả Phật giáo hưng suy theo vận thế nước nhà, nhưng ngôi nhà Phật pháp chưa từng cậy nhờ một uy lực nào bên ngoài mà làm nên sự nghiệp. Những văn bản luật nghi là kim chỉ Nam, là chất keo kết tinh những tinh thần, nhằm giúp cho người tu vượt qua những cám dỗ cuộc đời và cũng chính nhờ đó mà giữ vững ngôi nhà Phật pháp hơn 2500 năm nay.

Ngày nay khoa học có nhiều tiến bộ, có nhiều phong trào đòi hỏi và bênh vực cho quyền và lợi của con người, trong đó quyền tự do bình đẳng cho người phụ nữ được phương Tây chú trọng nhất. Điều này cũng tốt thôi, chúng ta không cần phải bàn cải nhiều. Bởi vì, không lẽ những cái gì thế gian có là mình cần phải có một phong trào tương tự và đem áp dụng nguyên mẫu vào trong Phật pháp thì còn gì cái hay, cái riêng biệt của Phật giáo. Đức Phật đã là người đại trí tuệ, chúng tôi tin tưởng tuyệt đối vào những gì Ngài đã ban ra. Tuy nhiên tùy theo quốc độ đang sống mà áp dụng cho nhuần nhuyễn, chứ không phải vì lo sợ một thế lực nào, một phong trào cách tân nào mà làm biến dạng ngôi nhà Phật pháp. Ngày hôm nay ai đủ khả năng xây dựng ngôi nhà Phật pháp mới? Những người giảng kinh Phật đều được tiếng thơm muôn thuở, không phải vị đó tài giỏi, mà chính những lời Phật dạy quá hay, quá thiết thực, phù hợp với mọi căn tánh chúng sanh.

Mặc dầu nằm trong khuôn khổ bài giảng tại học đường, có rào đón trước sau, có phân tích dẫn chứng…nhưng không phải vì lý do đó mà không coi lại tư cách cá nhân của vị giảng sư đó. Nếu như tranh luận ở thế gian điều cấm kỵ nhất là “quan tâm” quá nhiều về đời tư của người đang giảng dạy. Nhưng trong Phật giáo lại khác biệt, nhất là những người đã dạy những môn có liên quan đến luật tạng. Luật tạng không phải để nói, phân tích mà nghiêng nặng về hành trì, vì vậy mà tất cả các người đối thoại được phép coi lại tư cách của vị đó. (đây là điều lệ bất thành văn nhưng ai cũng ngầm hiểu, điều này cũng cho thấy rằng không phải cái gì cũng có thể bình đẳng tuyệt đối). Rất tiếc vị tiến sĩ này đã đi quá khả nẳng tu tập của chính mình. Những vị có cơ duyên dạy về luật tạng hoặc những môn có liên quan tới luật tạng, đều phải được đem lên bàn giải phẫu trước khi tin tưởng những gì vị ấy nói. Đây cũng là một nguyên tắc rất bình thường và cũng phù hợp với những gì mà đức Phật căn dặn.

Học vị là một điều cũng nên khích lệ cho phù hợp với xã hội, phù hợp những người có lý tưởng tìm kiếm “chính danh ngôn thuận”, nhưng khi bước vào lãnh vực Luật học thì, những vị đẻ ra chức tiến sĩ cũng phải quỳ lạy dưới đức độ và công hạnh của người hành trì giới luật. Vì vậy học vị tiến sĩ không liên quan gì đến lãnh vực luật học cả, dù trên vai có dăm ba cái bằng tiến sĩ thì cũng không ngoài câu “tỳ ni cửu trụ, Phật pháp diệc trụ, tỳ ni diệt trụ, Phật pháp diệc diệt”. Do đó mong rằng các vị tham gia tranh luận không nên đạt nặng vị ấy có học vị gì, mà cần xem người ấy tu hành thế nào

Chánh báo và y báo là 2 mặt hổ tương cho nhau của một con người, nhìn vào y báo để nhận biết chánh báo và ngược lại. Vì vậy, làm việc gì cũng cần phải cân phân cho tường tận, nhất là những người làm công tác giáo dục Phật giáo. Những lời nói hôm nay trên giảng đường có phải là “viên đạn bọc đường” giết chết đi những mần thánh không? Ai dám trả lời và chịu trách nhiệm trước lịch sử Phật giáo và ai cam chịu đón nhận những nhân quả trong tương lai qua bài học này? Vì vậy công tác giáo dục Phật giáo mang tính đặc thù riêng biệt, không cẩn thận sẽ “hóa chồn 500 kiếp”

Ngày nay chư Ni có những thành công như: viết sách, có chùa lớn, có đồ chúng đông, có Phật tử nhiều, có những công tác từ thiện, cưu mang và giúp đở những mảnh đời bất hạnh, cơ nhở không nơi nương tựa…đây là một việc làm chính đáng cần nhân rộng và phát triển thành cao trào, nhưng cũng không phải vì những thành công như thế mà đòi xóa bỏ bát kỉnh pháp. Nếu những tỳ kheo ni nào tự thấy bát kỉnh pháp là bất công, ràng buộc, gây phiền toái cho quá trình tu tập của chính mình thì tự động hủy bỏ, chứ không một ai đủ tư cách đứng ra vận động đòi bỏ những gì mà Phật đã ban hành. Những tỳ kheo ni không hành trì bát kỉnh pháp, theo chúng tôi không phải là một vị tỳ kheo ni chân chánh

Chúng tôi mượn tạm một câu chuyện phát trên sóng truyền hình nước nhà cách đây gần 10 năm để kết thúc bài viết này và xem có rút ra được bài học gì hữu ích không?. Hôm đó đòan ngoại giao Nhật Bản dọn tiệc ăn mừng nhân một sự kiện gì đó, bà cứ loay hoay phục vụ mà không ngồi vào ăn chung, một phóng viên đài truyền hình Việt Nam hỏi bà rằng: tại sao không ngồi ăn chung cùng lúc? Bà trả lời rằng: sở dĩ chúng tôi không ngồi ăn chung cùng lúc với mọi người là tôi ứng xử theo văn hóa truyền thống của chúng tôi. Nếu tôi cùng ngồi ăn chung cùng lúc là tôi không phải là phụ nữ Nhật Bản. Nghe người mà ngẫm đến ta. Thương tiếc thay vậy!

topodin, При необходимости предоставления заказчику журналу придаётся соответствующий вид


Các bài viết khác

Duyên khởi và ý nghĩa của An cư Kiết hạ

Duyên khởi và ý nghĩa của An cư Kiết hạ

Sống chung và hòa hợp trong cuộc sống thánh thiện cao cả, giáo giới và sách tấn lẫn nhau, đó là sinh mệnh của Tăng đoàn. Ðời sống của một tỳ kheo là sống không gia đình không cố định vĩnh viễn tại một trú xứ nào, nhưng các tỳ kheo được nối kết nhau thành một cộng đồng thống nhất...

Ai là người kế thừa sau khi đức Phật nhập Niết bàn

Ai là người kế thừa sau khi đức Phật nhập Niết bàn

Đức Phật không xem mình như là vị lãnh đạo Tăng già[8], pháp và luật mới là đạo lý công bằng, là vị thầy để cho chúng tăng nương tựa. Có thể nói, đây là quan điểm tiến bộ, lấy luật pháp làm nền tảng, đã xuất hiện ngay trong thời đức Phật, và được Ngài áp dụng trong đời sống Tăng đoàn...

Hành trạng Tổ Quy Sơn Linh Hựu và Qui sơn cảnh sách văn

Hành trạng Tổ Quy Sơn Linh Hựu và Qui sơn cảnh sách văn

Quy Sơn là ngọn núi cao chót vót, không có bóng người, vượn khỉ tụ tập thành bầy. Ngài nhặt những trái sung, trái dẻ mà làm thức ăn. Được chừng năm bảy năm qua, chẳng có ai lui tới. Ngài tự nghĩ: “Ta đến đây làm trụ trì là muốn làm lợi ích cho người...

Truy môn cảnh huấn

Truy môn cảnh huấn

Đem giáo pháp ra đời hoằng hóa, trải khắp cả nhân gian và cùng khắp nơi thôn xóm. Coi danh vọng như tiếng vang qua cửa hang, coi lợi lộc như hạt bụi bay lãng đãng, coi vật sắc như nắng mùa hè. Ấm áp với sự nghèo, bệnh, chắp vá với những vật thường, mà không cảm là thấp hèn...

Tác pháp Yết ma – nguyên tắc nghị sự trong Tăng đoàn Phật giáo

Tác pháp Yết ma – nguyên tắc nghị sự trong Tăng đoàn Phật giáo

Nếu một cộng đồng xã hội thịnh vượng được bắt đầu bằng yếu tố cơ bản của sự thống nhất ý chí và hành động, thì thanh tịnh và hoà hợp là yếu tố tiên quyết cho mạng mạch của Tăng-già. Tăng-già có thanh tịnh và hoà hợp thì Phật pháp mới trường tồn và hưng thịnh...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

3517372