Trang chính » Phật Quốc Online » Tài liệu tham khảo »

Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh

Tác giả : Thiền sư Nhất Hạnh dịch

sorayaspic

Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh
(Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ tư, Đại Tạng Tân Tu 198
(tương đương với Suddhatthaka Sutta, Sutta-Nipàta 788-795)

Bối Cảnh

Kinh này là kinh Ma Kiệt Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên: Có một vị phạm chí tên là Ma Kiệt (Màgadha) qua đời trong khi giảng dạy. Đệ tử làm tang lễ cho vị ấy, rước thi hài vị phạm chí qua các ngả đường thành phố Xá Vệ. Người ta tin rằng ai thấy được hình hài vị phạm chí ấy thì được giải thoát, dù là chỉ thấy được hình hài ấy sau khi ông ta chết. Các thầy khất sĩ của Bụt về báo cáo lại chuyện này và Bụt đã dạy kinh Ma Kiệt Phạm Chí.

1. “Tôi đã được chuyển hóa và trị liệu.” Có kẻ tin rằng hễ thấy được (bốn) sự thật thì mình tự nhiên được tịnh hóa. Những kẻ tin rằng cái kiến thức mình có chính là cái chuyển hóa và trị liệu, những kẻ ấy chưa thực sự chứng nhập được khổ đế và tập đế.

2. Có kẻ mới gặp được một bậc hảo nhân mà nghĩ là mình đã được tịnh hóa, đã có tuệ giác, đã hành trì xong, đã lìa xa được khổ nạn, đã trừ bỏ được xấu ác, đã thấy được con đường thanh tịnh, những người như thế cần phải đoạn trừ cái sở kiến của mình thì mới có thể thực sự đi vào được sự tịnh hóa chân chính.

3. Giải thoát không phải là do mình tiếp nhận được một cái gì từ người khác, hoặc từ những cái mình thấy, mình nghe hoặc những giới cấm và nghi lễ mà mình tiếp thọ. Vị sa môn chân chính không bị kẹt vào ý niệm tội và phước, vị ấy đã đoạn trừ được tất cả mọi ý niệm và không bao giờ tự khen mình.

4. Buông bỏ cái đã qua, không tưởng nhớ đến cái sắp tới. Bước đi trong hiện tại, vượt qua bốn dòng lũ lụt: dục hải, hữu hải, kiến hải và vô minh hải. Vị sa môn cứ một đường thẳng mà đi tới, không bị kẹt vào ý niệm khổ. Bởi vì biết rằng còn có sở niệm thì tâm mình còn bị ràng buộc!

5. Vị ấy luôn đề cao cảnh giác, nắm vững giới luật mà đi, và trong khi đi, nếu ý niệm về khổ kia phát sinh thì nên lập tức buông bỏ và từ từ đi vào công phu hành trì. Hành trì ở đây có nghĩa là thực sự quán chiếu và thẩm sát, và không có nhu yếu thuyết giảng bằng những lời kiểu cách.

6. Vị ấy đối với tất cả các pháp, không còn có nghi ngờ gì nữa. Với những gì thấy và nghe, vị ấy thường làm phát khởi chánh niệm để nhận diện. Vị ấy là kẻ đã thực sự nghe và thấy được (bốn) sự thật, là kẻ có nền tảng và năng lượng của sự hành trì, là kẻ không còn tạo tác nghiệp thế gian và không còn bị kéo theo sáu đối tượng của giác quan nữa.

7. Không thắc mắc về những tiện nghi cho riêng mình, không thắc mắc về việc nguời ta có tôn kính mình hay không, cũng không cần thắc mắc là mình đã có sự tịnh hóa hoàn toàn hay chưa, người đạt đạo cắt đứt được mọi ý niệm về ân và về oán, không còn vướng mắc vào một chủ thuyết nào và cũng không còn theo đuổi một dự án nào nữa trong thế gian.

8. Một người như thế là một bậc chân tu, không còn nắm giữ gì cho mình nữa cả. Những gì người ấy thấy và nghe, người ấy đều không bị vướng mắc. Người ấy không còn thấy có gì là ô nhiễm hoặc không ô nhiễm, không còn thấy có gì là tịnh hay bất tịnh.

Đại Ý

Kinh này cũng chỉ có tám bài kệ. Bụt dạy ta phải buông bỏ không những mọi chủ thuyết, mọi ý thức hệ mà phải buông bỏ luôn các ý niệm về khổ vui, tội phúc, ân oán và nhiễm tịnh. Kinh này nối tiếp được kinh thứ ba trước đây một cách rất liên tục và nhất trí.

Có người mới gặp được một bậc minh sư hay nghe được giáo lý mầu nhiệm của vị ấy thì đã có cảm giác là cuộc đời mình đã thay đổi, mình đã được trị liệu và chuyển hóa. Sự thực là mình chỉ mới đi tới giai đoạn thấy đạo (kiến đạo). Mình phải đi qua các giai đoạn tu đạo và chứng đạo nữa thì mình mới thực sự có chuyển hóa và trị liệu. Nếu không mình chỉ bám lấy cái ý tưởng là mình đã có thầy, đã có con đường, và cho như vậy là đủ.

Có những người sau khi nghe về diệu đế thứ nhất là khổ thì bị vướng vào đấy và nghĩ rằng khổ là chân lý tuyệt đối, mình phải tự nhắc đi nhắc lại “đời là khổ”. Thái độ giáo điều ấy khiến cho họ không đi tới được. Diệu đế thứ ba là diệt, nghĩa là sự vắng mặt của khổ đau, đồng thời cũng có nghĩa là sự có mặt của hạnh phúc, người ấy không thấy được như thế. Theo đúng tinh thần của kinh, không những ta phải buông bỏ ý niệm về khổ mà cũng phải buông bỏ ý niệm về hết khổ. Cái hết khổ không còn ám ảnh ta được thì cái khổ cũng không thể nào ám ảnh ta.

Giải thoát là cái tự do mình đạt được khi có khả năng buông bỏ. Không phải là cái mình tiếp nhận từ bên ngoài hay từ một vị đạo sư. Cái thấy cái hiểu của mình về giáo lý, cả những giới cấm và nghi lễ mình đang hành trì cũng không phải là giải thoát. Và vì vậy các ý niệm tội phúc, nhiễm tịnh, ân oán mình cũng buông bỏ được. Đây đã là sự hình thành của giáo lý Bát Nhã: không nhơ không sạch, không thêm không bớt, không khổ không lạc, không tội không phước.

Bài kệ 1
Ngã kiến tịnh vô hữu bệnh                           我  見  淨  無  有  病
Tín  kiến đế  cập tự tịnh                              信  見  諦  及  自  淨
Hữu tri thị tất  khả độ                                  有  知  是  悉  可  度
khổ đoạn tập chứng tiền phục                      苦  斷  習  證  前  服


Bài kệ 2
Kiến hảo nhân dĩ vi tịnh                              見  好  人  以  為  淨
Hữu tuệ hành cập ly khổ                            有  慧  行  及  離  苦
Hiệt trừ hung kiến tịnh kính                         黠  除  凶  見  淨  徑
Đoạn sở kiến chứng chí tịnh                       斷  所  見  證  至  淨

Bài kệ 3
Tùng dị đạo vô đắc thoát                              從  異  道  無  得  脫
Kiến văn trì giới hạnh độ                              見  聞  持  戒  行  度
Thân bất ô tội diệc phước                            身  不  污  罪  亦  福
Tất dĩ đoạn bất tự dự                                   悉  已  斷  不  自  譽

Bài kệ 4
Tất khí thượng mạc niệm hậu                       悉  棄  上  莫  念  後
Hữu thị hành độ tứ hải                                  有  是  行  度  四  海
Trực hành khứ mạc niệm khổ                        直  行  去  莫  念  苦
Hữu sở niệm ý tiện phược                            有  所  念  意  便  縛

Bài kệ 5
Thường giác ý thủ giới hạnh                         常  覺  意  守  戒  行
Tại thượng hành tưởng bỉ khổ                      在  上  行  想  彼  苦
Niệm bổn niệm sảo nhập hành                     念  本  念  稍  入  行
Bất kiểu ngôn thẩm hữu hiệt                        不  矯  言  審  有  黠

Bài kệ 6
Nhất thiết pháp vô hữu nghi                        一  切  法  無  有  疑
Chí kiến văn diệc sở niệm                           至  見  聞  亦  所  念
Đế kiến văn hành lực căn                            諦  見  聞  行  力  根
Thùy tác thế thị lục suy                               誰  作  世  是  六  衰

Bài kệ 7
Bất niệm thân bất niệm tôn                           不  念  身  不  念  尊
Diệc bất nguyện hành chí tịnh                       亦  不  願  行  至  淨
Ân oán đoạn vô sở trước                              恩  怨  斷  無  所  著
Đoạn thế nguyện vô sở trước                        斷  世  願  無  所  著

Bài kệ 8
Vô sở hữu vi phạm chí                                無  所  有  為  梵  志
Kiến văn pháp tiện trực thủ                          見  聞  法  便  直 取
Dâm bất dâm trước ô dâm                           婬  不  婬  著  污  婬
Dĩ vô thị đương trước tịnh                            已  無  是  當  著  淨

Nguồn: langmai.org

Продвижение сайта в Google topodin, Более 80% пользователей сети Интернет ищут информацию через ПС, и такой же процент из них не идет в своем поиске далее 2-й страницы выдачи


Các bài viết khác

Thông báo: Website đang trong quá trình nâng cấp

Thông báo: Website đang trong quá trình nâng cấp

Website www.bodephatquoc.com đang trong quá trình nâng cấp, chúng con kính gửi đến chư tôn đức và quý độc giả của trang nhà hoan hỷ xem tạm qua trang demo...

Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm

Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm

Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm không thể tách biệt lẫn nhau trong một đời sống có ý thức cao về vấn đề tự giác và giác tha. Nên, Tứ vô lượng tâm không thể tách biệt Bát chánh đạo. Bởi vì, Bát chánh đạo là thuộc về tự giác và Tứ vô lượng tâm là thuộc về giác tha. Nhưng, vấn đề tự giác hay giác tha là hai yếu tố không thể tách rời nơi một thực thể giác ngộ, mà chúng là hai mặt của một đời sống giác ngộ...

Người biết đặt gánh nặng xuống

Người biết đặt gánh nặng xuống

Con người cũng có khả năng tạo ra nhiều phước đức và cũng có khả năng tạo ra nhiều tội lỗi cho chính mình; con người vừa có khả năng che chở và bảo hộ muôn loài trên trái đất, và con người cũng vừa có khả năng sát phạt và hủy diệt muôn loài trên trái đất...

Chương trình “Pháp hội Dược Sư – Cầu an đầu năm 2020” tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Chương trình “Pháp hội Dược Sư – Cầu an đầu năm 2020” tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Hàng năm vào dịp đầu xuân, Bổn tự chùa Phước Long trang nghiêm thiết lễ khai đàn “Pháp hội Dược Sư - Cầu an đầu” để cho tứ chúng nương tựa tu học, khởi lên thiện tâm, gieo trồng căn lành trong năm mới. Vì vậy Bổn tự kính mời quý đạo hữu Phật tử, thiện tri thức gần xa cùng nhau vân tập về chùa để tu học...

Thư chúc Tết và chương trình Xuân Canh Tý 2020 tại chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Thư chúc Tết và chương trình Xuân Canh Tý 2020 tại chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Tết cổ truyền –  mừng Xuân Canh Tý 2020, Chùa Tây Thiên, thành phố Nha Trang tổ chức chương trình “Xuân Di Lặc” với những sinh hoạt vui xuân mang đậm nét đẹp truyền thống của dân tộc, pháp thoại đầu năm, khóa lễ Dược Sư, dâng sớ cầu an đầu năm, rút thăm trúng thưởng...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

5424896