Trang chính » Hình ảnh »


Lễ húy kỵ đức Tăng cang Quốc sư Phước Huệ năm 2019 – Tổ khai sơn chùa Phước Long, Bình Định

Tác giả : Tin Hoa Biển, ảnh Hiền Nguyên

Bình Định – Sáng ngày 22 / Giêng / Kỷ Hợi (nhằm 26 / 02 / 2019) Bổn tự, Bổn đạo tứ chúng chùa Phước Long, Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định trang nghiêm cử hành lễ kỷ niệm huý kỵ đức Tăng cang Quốc sư Phước Huệ – khai sơn chùa Phước Long.

Chùa Phước Long hân hoan cung đón chư tôn đức Tăng Ni quang lâm chứng minh và sự hiện diện đông đảo của Đạo hữu, Phật tử, thiện hữu tri thức gần xa tham dự.

Giờ thọ trai đại chúng dùng buffer chay đầy tình đạo vị.

TIỂU SƯ QUỐC SƯ PHƯỚC HUỆ (1869 – 1945)

HT. Thích Viên Đạt phụng soạn.

Một vị Cao Tăng, bác thông kinh luận, nổi danh khắp miền Trung và miền Nam, là thầy dạy của phần đông những vị trụ cột lãnh đạo Phật giáo cận và hiện đại.

Quốc sư Phước Huệ, Ngài thế danh Nguyễn Tấn Giao, sanh năm Kỷ Tỵ (1869 ) tại làng Phú Thành, phủ An Nhơn, nay là thôn Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, đồng chơn nhập đạo. Thân phụ là Nguyễn Chánh Niệm, pháp danh Minh Thiện, tự Hòa Bình; thân mẫu là Nguyễn Thị Lãnh, pháp danh Chơn Hoá. Cả hai đều xuất thân trong gia đình Phật tử thuần thành, gốc Quảng Nam, vào thời chiến tranh ly loạn di cư vào Bình Định, hiện còn ngôi mộ của thân phụ Ngài tại thôn Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, trong vườn chùa Phước Lộc, bên triền núi Phốc Lốc về hướng Đông, bia ghi tên những người lập mộ: Nguyễn Tấn Giao, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Tấn Đạo, Nguyễn Tấn Lại. Trong số anh em của Ngài, có người đầu sư với Hòa thượng Từ Mẫn chùa Tịnh Lâm Phù Cát, Bình Định hiệu Phổ Nhãn cũng là bậc tinh thâm kinh luật, văn hay chữ tốt, bút tích hiện còn ở bộ Công văn của Tổ đình Thập Tháp  do chính Sư  soạn và viết. 

Năm 12 tuổi (1881), xuất gia với Hoà thượng Ngộ Thiệu – Minh Lý tại chùa Thập Tháp cùng xã Nhơn Thành, pháp danh Chơn Luận, hiệu Phước Huệ,  pháp phái Nguyên Thiều, đời thứ 40 dòng Lâm Tế.          

Ngài là bậc bác học đa văn, căn trí của bậc thượng thừa, được Bổn sư lưu tâm đào tạo nên tiến triển vượt bực. Bổn sư còn gửi Ngài đến chùa Tịnh Lâm, Phù Cát, Bình Định tham học với Hoà thượng Thanh Chánh – Từ Mẫn. Bạn đồng học với Ngài có Hoà thượng Phổ Huệ (1871-1933) là đệ tử lớn của Hoà thượng Từ Mẫn, cũng là bậc thông minh xuất chúng là Pháp sư triều Nguyễn. Sau nầy làm rạng danh đạo nhà cùng với Ngài được người đời xưng tụng:

Bình định lưỡng Huệ                                                         

Dục tú chung linh

Bắc Phổ nam Phước

Đại chấn gia thinh

Dịch nghĩa:              

Bình định hai Huệ

Tinh anh đúc ra

Bắc Phổ, nam Phước

Rạng rỡ tiếng nhà.

Năm Quí Mùi (1883), được Bổn sư gửi vào chùa Từ Quang núi Đá Trắng, Phú Yên tham cứu thiền chỉ của Tổ Pháp Chuyên – Luật Truyền.

Năm 21 tuổi, Kỷ Sửu (1889), thọ Cụ túc giới tại đại giới đàn chùa Long Khánh, Qui Nhơn do Hoà thượng Hải Khoát – Chánh Nhơn làm đường đầu. Cùng năm nẩy, Bổn sư viên tịch, Ngài tiếp tục tham học và giúp đỡ  của sư huynh Tăng cang  Chơn Châu – Vạn Thành là người kế vị Bổn sư làm trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định.

Qua nhiều năm chuyên tâm tu học, cộng với sự thông tuệ sẵn có, đến nay trình độ Phật pháp của Ngài đã uyên thâm. Tam tạng giáo điển, chư tử bách gia, Ngài đều làu thông nên được người đời tôn xưng bằng mỹ hiệu: “PHẬT PHÁP THIÊN LÝ CÂU” (con ngựa câu ngàn dặm trong Phật Pháp).

Năm 1904, lãnh trú trì chùa Phổ Quang, thôn Phổ Trạch, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, ngôi chùa mà năm 1898 Ngài đã đúc cúng một đại hồng chung cao 1,3m, đường kính miệng rộng 0,8m, nặng 300kg, trên thân chung có khắc bài PHỔ QUANG TỰ CHUNG CHẾ do Ngài soạn.

Năm Ất Tỵ (1905), Thành Thái thứ 17, Tăng cang Chơn Châu – Vạn Thành viên tịch, chư sơn môn phái suy cử Ngài làm trú trì Tổ đình Thập Tháp, Vua sắc phong Tăng cang, khâm ban đao điệp.

Năm Bính Ngọ (1906), triều đình mời Ngài ra Hoàng cung thuyết giảng Phật pháp cho Vua, nội cung và bá quan. Nhiều vị trong Hoàng tộc đã quy y với Ngài. Từ đó Ngài được tôn xưng là Quốc sư, lúc đó Ngài được 37 tuổi. Trải qua các triều vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại, thường xuyên mời Ngài ra giảng dạy.

Năm Mậu Thân (1908), Ngài được thỉnh ra kinh đô Huế khai giảng Khoá giảng kinh Sơn môn Đại học đường tại chùa Trúc Lâm. Ngài bắt đầu và tiếp tục chủ giảng tại các chùa Trúc Lâm, Tường Vân, Tây Thiên. Ngài có nhơn duyên và công lao rất lớn trong việc đào tạo Tăng tài xứ Huế nên trong Lịch sử Phật giáo xứ Huế của Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm phần nói về Hoà thượng Phước Huệ đã xác nhận: “Tuy Ngài là một Cao tăng ở Bình định nhưng cơ duyên hoá đạo của Ngài ở Huế thật lớn lao”. Thật vậy, hiện tại các vị Cao Tăng thạc đức làm rường cột cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, trực tiếp hoặc gián tiếp đều có thọ giáo với Ngài, trong đó có những vị nổi tiếng như: HT. Đôn Hậu, HT. Mật Thể, HT. Mật Hiển, HT. Mật Nguyện, HT. Trí Thủ, HT. Trí Độ, HT. Phúc Hộ, HT. Trí Nghiêm, HT. Trí Thành… Trung phần. HT. Huyền Tân, HT. Thiện Hoà, HT. Thiện Hoa… Nam phần. Các Sư Bà Diệu Không, Sư  Bà Diệu Huệ… và các Cư Sĩ có công lao nhiều với Phật giáo Việt Nam như Tâm Minh Lê Ðình Thám, Chơn An Lê văn Ðịnh… Pháp âm của Ngài vẫn còn vang vọng mãi.

Ðể tưởng nhớ ân đức cao dày của Ngài, năm Tân Mùi (1931), Tỳ kheo và Cư sĩ tại giảng đường Trúc Lâm Xuân kinh Thừa Thiên đã cùng nhau hoạ chân dung toàn thân của Ngài để phụng thờ, hiện còn treo ở phương trượng của Tổ đình Thập Tháp, rộng 1m, dài 1m4.

Năm Canh Thân (1920), mở Phật học đường tại Tổ đình Thập Tháp, học tăng nhiều nơi về tham học rất đông. Cũng trong năm này, Ngài khai sơn Chùa Phước Long tại thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, Bình Định và cử đệ tử lớn là Hoà thượng Không Vân – Trí Diệu làm trú trì. Và Ngài nhận lời thỉnh cầu của Hoà thượng Giác Tiên, Ngài làm Chứng minh đạo sư cho An nam Phật học hội. Từ đó về sau, năm nào cũng ra Huế giảng dạy, mỗi năm hàng mấy tháng.

Năm Giáp Tý (1924), xây Phương trượng và Cổng tam quan, mang đậm lối kiến trúc cổ xưa hùng vĩ của cung đình đến nay vẫn còn giữ nguyên.

Năm Bính Tý (1936), Hội Phật học Bình Định thành lập, thỉnh Ngài chứng minh.

Năm Mậu Dần (1938), nhận lời mời của Hoà thượng Chánh Nhơn, Ngài lãnh chủ giảng tại Phật học đường Long Khánh, Qui Nhơn. Từ đó trở đi, Ngài vừa phụ trách giảng dạy tại Phật học đường Thập Tháp, Phật học đường Long Khánh ở tỉnh nhà, lại vừa phụ trách giảng dạy tại các Sơn môn Phật học đường ở Huế. Con dương hoá đạo của Ngài rất rộng lớn, đức hy sinh cả Ngài vô hạn. Nguyễn Lang trong  VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ LUẬN đã nhận xét: “Phần lớn những giáo sư và giảng sư hoạt động từ năm 1938 trở đi đều có thụ giáo với Ông, trong số đó có nhiệu vị gốc Nam kỳ … khả năng giáo hoá của Phước Huệ rất vĩ đại”. Ðó chưa kể đến rất nhiều vị xuất gia lẫn tại gia đã từng thọ giáo với Ngài tại Phật học đường Trúc Lâm, Tường Vân, Tây Thiên ở Huế cùng các Phật học đường Thập Tháp, Long Khánh ở Bình Định, tuy không nổi danh nhưng đã góp phần giữ vững giềng mối Phật pháp trong tương lai.

Ngài giảng dạy môn sinh bằng thân giáo và khẩu giáo, Ngài thường quở trách những môn sinh trong giờ giảng mà ghi chép nhiều bỡi ghi chép là không chú tâm và không tin vào trí tuệ của mình. Phương pháp giáo dục của Ngài là “truyền thẳng vào tâm”. Bỡi vậy, Ngài không viết sách vở để lại cho đời ngoài bài tán ngữ băng Hán văn cho tập sách Việt Nam Phật Giáo Sử Lược của Thượng toạ Mật Thể và bài Phổ Quang Tự Chung Chí khắc trên chuông chùa Phổ Quang do Ngài đúc cúng.

Tài trí và công hạnh của Ngài vang mãi đến ngàn sau. Hoà thượng Kế Châu, đệ tử của Ngài có thi tán:          

Phước Huệ chơn Phước Huệ,

Ðồng trần hiện ư thế.

Giáo nghĩa tác Quốc sư,

Công đức vô biên tế.

Dịch nghĩa:    

Phước Huệ thật Phước Huệ,

Thương đời hiện trần thế.

Giáo nghĩa làm Quốc sư,

Thánh Hiền không bờ mé.

Gần nửa thế kỷ, đem chân lý Phật đà trao truyền cho hậu thế, cơ duyên đã mãn. Ngày 22 tháng giêng, năm Ất Dậu (1945), Ngài an nhiên thị tịch, trụ thế 77 năm. Nhục thân an trí tại Bảo tháp cạnh Tổ đình Thầp Tháp về hướng Đông Bắc. Hoà thượng Bích Liên Trí Hải đề vịnh 4 câu:

Nguy nhiên nhất cao tháp,

Ðộc toà cổ bàn đông.

Ngoại hiện hữu vi tướng,

Trung tàng vô tướng ông.

Dịch nghĩa:    

Sừng sững một ngôi tháp,

Phía Đông Ðồ Bàn thành.

Ngoài hiện tướng sanh diệt,

Trong ẩn pháp vô sanh.

Trong nghi BÁO TIẾN QUỐC SƯ PHƯỚC HUỆ, Hoà thượng Kế Châu có bài thi:

Trường không vân tễ nguyệt lung linh,

Hải thượng cô hồng vạn lý chinh

Nhất quá tuyệt vô tà ảnh lạc,

Kỷ trùng duy hữu bích thiên minh.

Chỉ duyên ác trược trầm mê mộng,

Hồi nhập u đồ điểm kiến tinh.

Phước Huệ Quốc sư khai nghĩa học,

Nguyên Thiều lịch đại chấn gia thinh.

Dịch nghĩa:

Trời quang mây tạnh nguyệt long lanh,

Muôn dặm chim hồng vượt biển xanh.

Chiếc ảnh tuyệt không rời nước biếc,

Mấy trùng duy có bóng trời xanh.

Thương đời nhơ nhớp chìm mê mộng,

Vào nẻo u thàm mở kiến tinh.

Phước Huệ triển khai nền nghĩa học,

Nguyên Thiều Tổ đạo rạng gia thanh.

HT. Viên Ðạt dịch

Về văn tự, Ngài chỉ để lại hai bài:

1) Bài TÁN NGỮ đề ở đầu sách VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ LƯỢC của HT Mật Thể.

2) Bài PHỔ QANG TỰ CHUNG CHÍ: khắc trên Hồng chung Chùa Phổ Quang, xã Phước thận, huyện Tuy phước.

* Hằng năm lễ húy kỵ Quốc Sư được tổ chức tại nhiều ngôi chùa khác nhau:

Ngày 19 tháng Giêng Âl: Chùa Huệ Quang, Cát Lâm, Phù Cát, Bình Ðịnh.

Ngày 20 tháng Giêng Âl: Chùa Phổ Tịnh, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Ðịnh.

Ngày 21 tháng Giêng Âl: Tổ đình Thập Tháp, Nhơn Thành, An Nhơn, Bình Ðịnh.

Ngày 21 tháng Giêng Âl: Chùa Giác Uyển, Quận Phú Nhuận, TP. HCM.

Ngày 22 tháng Giêng Âl: Chùa Phước Long, TT Phú Phong, Tây Sơn, Bình Ðịnh.


Các bài viết khác

Kính báo tin: Sa di Bồ tát giới pháp danh Quang Nhiếp, tự Hiền Niệm đã xả báo thân

Kính báo tin: Sa di Bồ tát giới pháp danh Quang Nhiếp, tự Hiền Niệm đã xả báo thân

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Toàn thể Tăng chúng chùa Phước Long chúng con thành kính cáo phó; Sa di Bồ tát giới pháp danh Quang Nhiếp, tự Hiền Niệm, thuộc Tăng chúng chùa Phước Long, Bình Định đã xả bỏ báo thân, về với tịch quy lạc quốc...

Thông báo: Khoá tu “Một Ngày Phước Huệ” mùng 07 tháng 10 năm Kỷ Hợi (2019) tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Thông báo: Khoá tu “Một Ngày Phước Huệ” mùng 07 tháng 10 năm Kỷ Hợi (2019) tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Trong Kinh Phổ Môn có dạy, nếu ai lâm nạn mà chí thành xưng danh hiệu cầu nguyện đức Quán Thế Âm Bồ Tát thì lửa không cháy, nước không trôi, quỷ không hại, xiềng xích không trói, tối tăm thành sáng suốt, thù oán thành thân cận. Với hạnh đại từ, đại bi của Bồ Tát Quán Thế Âm...

Suy nghĩ về hướng giáo dục đạo Phật cho tuổi trẻ

Suy nghĩ về hướng giáo dục đạo Phật cho tuổi trẻ

Tuổi trẻ học Phật không có mục đích trở thành nhà nghiên cứu Phật học, mà học Phật là tự thực tập khả năng tư duy bén nhạy, linh hoạt, để có thể nhìn thẳng vào vào bản chất sự sống. Cho nên, sự học Phật pháp không hề cản trở sự học thế gian pháp; kiến thức Phật học không xung dột với kiến thức thế tục. Duy chỉ có điều khác biệt, là học Phật khởi đi từ thực trạng đau khổ của nhân sinh để nhận thức đâu là hạnh phúc...

Đức Phật dạy về Bố thí

Đức Phật dạy về Bố thí

Do vị ấy bố thí không làm tổn thương mình và người khác, bất cứ nơi nào quả của việc bố thí ấy chín muồi, vị ấy sẽ được giàu có, sung mãn, đại phú, vị ấy sẽ không bị mất mát tài sản bất cứ lý do gì, dù là do lửa cháy, lụt lội, bị vua tịch thu, trộm cướp hay do những người thừa kế bị ghét bỏ chiếm đoạt...

Phân tích Bát thánh đạo

Phân tích Bát thánh đạo

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Chánh tri kiến? Tri kiến về khổ, tri kiến về nguồn gốc của khổ, tri kiến về diệt khổ, tri kiến về con đường đưa đến diệt khổ, đó là Chánh tri kiến. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Chánh tư duy? Tư duy về xuất ly, tư duy về vô sân, tư duy về vô hại, đó là Chánh tư duy...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

3519106