Trang chính » Phật học » Giáo lý căn bản »

Lịch sử kết tập kinh luật lần thứ nhất

Tác giả : TT. Thích Phước Sơn

Đường lên hang Thất Diệp, ảnh Nhựt Lâm

 

Không bao lâu sau khi đức Thế Tôn nhập Niết bàn, tôn giả Đại Ca Diếp tập họp 500 vị đại Tỳ kheo tại giảng đường Trùng Các, bên dòng sông Di Hầu, thành Tỳ Xá Ly, để chuẩn bị kết tập kinh luật. Trong số 500 Tỳ kheo này, 499 vị đã đắc quả A La Hán, chỉ trừ tôn giả A Nan.

Bấy giờ, tôn giả Đại Ca Diếp nói với các Tỳ kheo: “Này chư hiền, trên đường tôi trở về thành Câu Thi (Kusinàrà) để đảnh lễ Đức Thế Tôn lần cuối cùng, khi hay tin Ngài nhập Niết bàn, thì có một việc đáng buồn xảy ra: Trong khi các Tỳ kheo khóc than thảm thiết, không thể kiềm chế được lòng thương tiếc đức Thế Tôn, có người lảo đảo trên mặt đất, bước đi không nổi, thì Tỳ kheo Bạt Nan Đà (Upanada) đang đi trước họ, bảo họ im lặng và nói: “Vị trưởng lão ấy thường dạy chúng ta nên làm như thế này, không nên làm như thế kia; nên học những điều nay, không nên học những điều kia, thật là phiền toái. Bọn chúng ta ngày nay mới thoát được nỗi khổ ấy, tùy ý muốn làm gì thì làm, không còn ai ngăn cản nữa. Vì sao các ông lại thương tiếc khóc than?”. Ta nghe lời nói ấy, cảm thấy vô cùng đau đớn, và lo âu. Ngày nay, tuy Phật đã Niết bàn, nhưng giới luật vẫn còn đó, vậy chúng ta phải hợp sức kết tập lại giới luật, chớ để cho Bạt Nan Đà cấu kết cùng bè đảng phá hoại chánh pháp.

Các Tỳ kheo đều tán đồng lời nói của tôn giả Ca Diếp, và thưa rằng: “Thưa trưởng lão, A Nan thường hầu cận Thế Tôn, thầy ấy thông minh, nghe nhiều, gìn giữ kho tàng chánh pháp đầy đủ, nay ta nên mời Thầy vào trong số những người kết tập luật tạng”.

Tôn giả Ca Diếp liền bảo: “A Nan còn ở địa vị cần phải học (hữu học), còn bị tham ái,sân hận, si mê và sợ hãi chi phối, không nên cho tham dự”.

Thế nhưng, lúc này tôn giả A Nan đang ở tại thành Tỳ Xá Ly, ngày đêm thường thuyết pháp cho 4 chúng. Mọi người lui tới nghe pháp đông đúc chẳng kém gì khi Phật còn tại thế. Tại đây,có một Tỳ kheo người xứ Bạt Kỳ đang ngồi thiền trên lầu, vì không khí ồn ào không thể du hí trong tam muội giải thoát, bèn quán chiếu xem A Nan đã giác ngộ hay chưa, thì thấy rằng A Nan còn ở địa vị hữu học, liền đến chỗ A Nan, đọc lên bài kệ:

“Ngồi dưới cây chỗ vắng,

Tâm hướng đến Niết bàn.

Thiền định, chớ phóng dật,

Nói nhiều có ích chi?”

A Nan nghe vị Tỳ kheo ấy đọc kệ như vậy, lại biết việc Ca Diếp không cho mình tham dự kết tập luật tạng, nên đầu đêm, giữa đêm và cuối đêm đều siêng năng đi kinh hành, mong cầu được giải thoát, nhưng vẫn chưa đạt được. Đến lúc nửa đêm, thân thể mỏi mệt cực độ, thầy định nằm nghỉ một chút, liền nghiêng đầu xuống gối, khi đầu vừa chấm gối, thì bỗng dưng dứt hết lậu hoặc. Các Tỳ kheo biết thế, bảo thưa với Ca Diếp: “Đêm qua A Nan đã đạt được giải thoát, giờ đây nên cho thầy vào trong số người kết tập luật tạng”. Ca Diếp liền chấp nhận đề nghị ấy. Thế rồi, Tôn giả chọn thành Vương Xá làm nơi kết tập; vì ở đây có đầy đủ các phương tiện và thực phẩm.

Bấy giờ, 500 vị A La Hán liền đến thành Vương Xá. Trong tháng đầu mùa hạ, họ sửa chữa phòng ốc và chuẩn bị ngọa cụ; tháng thứ hai tọa thiền để hưởng pháp vị giải thoát; đến tháng thứ ba mới tập họp tại một chỗ. Thế rồi, tôn giả Ca Diếp đề cử tôn giả Ưu Ba Ly kết tập luật tạng, và được đại chúng chấp thuận. Ca Diếp bắt đầu hỏi Ưu Ba Ly: Giới nào Phật chế trước nhất, chế tại đâu, người nào sai phạm, phạm về tội gì… Ư Ba Ly trình bày rằng: Phật chế giới dâm trước nhất, do Tu Đề Na (Sudinna) vi phạm đầu tiên… Một người hỏi, một người đáp, và cuối cùng hỏi lại đại chúng, đại chúng cũng hoàn toàn nhất trí với sự trình bày của tôn giả Ưu Ba Ly. Công việc này kéo dài đến 80 lần mới hoàn tất, gồm đủ cả giới Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni và được đặt tên là Bát thập tụng luật (Bộ luật được đọc đến 80 lần).

Tiếp theo, tôn giả Ca Diếp đề cử tôn giả A Nan kết tập kinh tạng và được đại chúng nhất trí. Tôn giả A Nan lần lượt kết tập các kinh sau đây: Tăng nhất, Tăng thập, Đại nhân duyên, Tăng Kỳ Đà, Sa môn quả, Phạm Động và những kinh Phật thuyết giảng cho Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, chư thiên và nhân loại. Những kinh dài kết tập thành một bộ gọi là Trường A Hàm. Những kinh trung bình kết tập thành một bộ gọi là Trung A Hàm. Những kinh nói cho nhiều đối tượng như Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di và chư Thiên kết tập thành một bộ gọi là Tạp A Hàm. Những kinh lần lượt nói từ một pháp tăng dần đến mười một pháp kết tập thành một bộ gọi là Tăng Nhất A Hàm. Ngoài ra, tập hợp các kinh nói bao quát nhiều vấn đề thành một bộ gọi là Tạp Tạng.

Thế rồi, tôn giả Ca Diếp tuyên bố: “Chúng ta đã kết tập giáo pháp hoàn tất. Từ nay trở đi, những gì Phật không chế định thì không được tùy tiện chế định, những gì Phật đã chế định thì không được vi phạm. Chúng ta phải kính cẩn học tập những gì Phật đã chế định”.

Tôn giả A Nan lúc bấy giờ thưa với tôn giả Ca Diếp: “Chính bản thân tôi từng nghe Phật dạy rằng: “Sau khi Ta Niết Bàn, nếu thấy những giới nào có tính cách nhỏ nhặt, các ngươi có thể loại bỏ”.

Ca Diếp liền hỏi: “Thầy cho những giới nào là giới nhỏ nhặt?”

A Nan đáp: “Không biết”.

– Vì sao không biết?

– Vì tôi không hỏi Thế Tôn.

– Vì sao không hỏi?

– Vì bấy giờ thân Phật đang bất an, sợ làm não loạn Ngài.

– Vì thầy không hỏi ý nghĩa những vấn đề ấy, nên phạm tội Đột cát la, phải tự mình nhận tội và sám hối.

– Thưa Đại đức, không phải là tôi không tôn kính giới mà không hỏi ý nghĩa những vấn đế ấy, nhưng vì sợ làm phiền Thế Tôn, nên không hỏi. Trong vấn đề này, tôi không thấy mình phạm tội, nhưng vì kính trọng và tin tưởng Đại đức, nên tôi xin sám hối.

– Khi thầy và y Tăng già lê cho Thế Tôn, thầy đã dùng chân đạp lên y, do đó, phạm tội Đột cát là… (nt)

– Thưa Đại đức, không phải là tôi không kính trọng Phật, nhưng vì lúc ấy không có ai cầm y, nên tôi phải dùng chân đạp lên y để vá… (nt)

– Thầy đã ba lần cầu xin Thế Tôn cho phép nữ giới xuất gia trong chánh pháp, nên phạm tội Đột cát la… (nt)

– Thưa Đại đức, không phải là tôi không tôn kính pháp, nhưng vì bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề Cù Đàm Di từng nuôi dưỡng Thế Tôn đến trưởng thành, rồi Ngài đi xuất gia mà thành Chánh giác. Công ơn ấy cần phải báo đáp, nên tôi mới ba lần cầu thỉnh Thế Tôn cho phép nữ giới xuất gia…(nt)

– Khi Phật sắp Niết bàn đã hiện tướng nói với thầy rằng: Nếu người nào đạt được bốn thần túc, muốn giữ thọ mạng một kiếp hoặc hơn một kiếp đều có thể làm được Đức Như Lai đã thành tựu vô lượng thiền định, và đã ba lần hiện tướng nói với thầy như thế mà thầy không cung thỉnh Phật trụ thế một kiếp, hoặc hơn một kiếp, nên phạm tội Đột cát la… (nt)

– Thưa Đại đức, không phải tôi không muốn thỉnh Phật trụ thế lâu dài, nhưng vì do ác ma ba tuần che mở tâm trí của tôi, nên tôi không thưa thỉnh … (nt)

– Ngày xưa, Phật đã ba lần nhờ thầy đi lấy nước cho Phật uống, mà rốt cuộc thầy không dâng nước cho Phật, nên phạm tội Đội cát la…(nt)

– Thưa Đại đức, không phải là tôi không muốn dâng nước cho Phật, nhưng vì bấy giờ có 500 chiếc xe vừa đi quan phía trên dòng sông khiến cho nước đục sợ uống vào sinh bệnh, nên tôi không lấy nước cho Thế Tôn… (nt)

– Thầy đã cho phép nữ giới lễ xá lợi Phật trước mọi người, nên phạm tội Đột cát la… (nt)

– Thưa Đại đức, không phải tôi muốn cho phép nữ giới lễ xá lợi Phật trước, nhưng vì sợ trời sắp tối, họ vào thành không kịp, nên tôi mới cho phép… (nt)

Tiếp theo, đại hội cứu xét những giới nào có thể loại bỏ, tôn giả Ca Diếp trình bày: “Nếu chúng ta xem chúng học pháp (những pháp cần phải học) là những giới nhỏ nhặt có thể loại bỏ, thì các Tỳ kheo khác sẽ bảo: Bốn giới Ba la đề đề xá ni cũng là những giới nhỏ nhặt có thể loại bỏ. Nếu chúng ta bảo bốn giới Ba la đề đề xá ni là những giới nhỏ nhặt,thì các Tỳ kheo khác sẽ bảo: Các giới Ba dật đề cũng là những giới nhỏ nhặt… Giờ đây, chúng ta không thể khẳng định giới nào là giới nhỏ nhặt mà loại bỏ một cách tùy tiện thì bọn ngoại đạo sẽ bảo: “Pháp của Sa môn Thích tử giống như mây khói, khi thầy còn sống thì những pháp do thầy chế định các đệ tử tuân thủ một cách nghiêm túc, nhưng sau khi thầy nhập Niết bàn, họ không chịu thực hành nữa”. Do vậy, tôi xin khẳng định lại: “Những gì không do Phật chế thì không được tự ý chế định và những gì do Phật chế định thì không được vi phạm. Chúng ta phải kính cẩn học tập những gì mà Phật đã truyền dạy”.

Sau khi nghe trình bày,tất cả đại chúng liền đồng thanh nhất trí với lời tuyên bố của tôn giả Ca Diếp.

Lúc này, trưởng lão Phú Lâu Na đang ở phương Nam nghe Phật Niết bàn tại thành Câu Thi, và các trưởng lão Tỳ kheo đang kết tập Tỳ ni pháp tạng tại thành Vương Xá, liền dẫn đồ chúng đến đó tham dự. Nhưng khi đến nơi, đại hội kết tập vừa xong. Do đó, trưởng lão yêu cầu đại hội đọc tụng lại một lần nữa để trưởng lão và đồ chúng cùng nghe. Đại hội đã hoan hỷ đáp ứng lời yêu cầu ấy.

Trong đại hội kết tập này, được các trưởng lão sau đây chủ trì: 1. Trưởng lão A Nhã Kiều Trần Như làm đệ nhất Thượng tọa. 2. Phú Lâu na làm đệ nhị Thượng tọa. 3. Đàm Di làm đệ tạm Thượng tọa. 4. Đà Bà Ca Diếp làm đệ tứ Thượng tọa. 5. Bạt Đà Ca Diếp làm đệ ngũ Thượng tọa. 6. Đại Ca Diếp làm đệ lục Thượng tọa. 7. Ưu Ba Ly làm đệ thất Thượng tọa. 8. A Na Luật làm đệ bát Thượng tọa.

Vì cuộc kết tập này vừa đúng 500 vị A La Hán, không nhiều, không ít, nên được gọi là cuộc kết tập giáo pháp của 500 vị A La Hán. (Ngũ phần luật, ĐTK. 1421, tr. 190b – 192a)

SO SÁNH VÀ NHẬN XÉT

1- Nhận xét tổng quát

– Luật Ngũ Phần trình bày tóm tắt, cô đọng, và chỉ trình bày về sự kết tập.

– Luật Tứ phần, ngoài phần trình bày sự kiện kết tập, còn nói thêm đôi nét về lúc Phật Niết bàn.

– Luật Thập Tụng trình bày tương đối phong phú nhất, vì còn thêm nhiều chi tiết lúc Phật Niết bàn.

2- Những vị chủ trì cuộc kết tập:

– Luật Ngũ phần (xem lại trước)

– Luật Tứ phần ghi: a. Đà Ê La Ca Diếp, b. Trưởng lão Bà Bà Na, c. Đại Ca Diếp, được. Trưởng lão Đại Châu Na.

– Luật Thập tụng ghi: a. A Nhã Kiều Trần Như, b. Trưởng lão Quân Đà, c. Thập Lực Ca Diếp, được. Ma Ha Ca Diếp.

3- Những vấn đề Ca Diếp chất vấn A Nan.

– Luật Ngũ phần (tóm tắt những trình bày trên): a. A Nan không hỏi Phật những giới nào là giới nhỏ nhặt có thể loại bỏ, b. A Nann đã đạp chân lên y Tăng già lê của Phật, c. A Nan đã xin Phật cho nữ giới xuất gia, được. A Nan không xin Phật trụ thế lâu hơn nữa mà để Phật Niết bàn, e. A Nan không lấy nước cho Phật uống khi Phật đang cần, f. A Nan đã cho phép nữ giới lễ xá lợi Phật trước nhất.

– Luật Tứ phần: bộ này đề cập đến 7 điều. Riêng điều thứ hai khác hẳn hai bộ kia, như sau: Phật đã 3 lần yêu cầu A Nan làm người cúng dường mà A Nan nhất quyết không nhận. Còn các điều 1, 3, 4, 5, 6 thì giống như các điều từ 1 – 5 của Ngũ Phần, chỉ đảo lộn vị trí. Điều 7 cuối cùng thì viết: A Nan không ngăn nữ giới khiến họ làm bẩn chân Phật (1) (ĐTK, 1428, tr 966a).

– Luật Thập Tụng: 5 điều trước giống như Luậg Ngũ Phần, chỉ đảo lộn vị trí. Riêng điều thứ 6 Luật này nói: A Na đã để lộ âm tàng tướng của Phật cho nữ giới xem (2) (ĐTK, 1435, tr449b).

Chú thích:

(1) Tôn giả Ca Diếp chất vấn A Nan: “Vì sao thầy không ngăn cản nữ giới để họ làm bẩn chân Phật?” A Nan đáp: “Không phải tôi cố ý làm như vậy, nhưng vì tâm hồn của nữ giới rất mềm yếu, nên khi đảnh lễ chân Phật, họ khóc lóc làm rơi nước mắt lên chân Phật, khiến chân Phật bị nhiễm bẩn”.

(2) Tôn giả Ca Diếp hỏi A Nan: “Vì sao thầy để lộ âm tàng của Phật cho nữ giới xem?” A Nan đáp: “Vì nữ giới phước đức mỏng manh, nên muốn cho họ xem tướng âm tàng của Phật. Khi thấy rồi, họ sẽ nhàm chán cái thân nữ giới, sau đó mong được cái thân nam tử, nên tôi cho họ xem”.

4- Một số khía cạnh khác

a/ Địa điểm kết tập: cả ba bộ đều nhất trí cho là tại thành Vương Xá.

b/ Thời gian kết tập: cả ba bộ đều đồng ý cho rằng vào mùa hạ năm Phật Niết bàn.

c/ Số người tham dự kết tập: cả ba bộ đều ghi nhận con số 500 vị A La Hán.

d/ Người phấn khởi nhất khi hay tin Phật Niết bàn: cả ba bộ đều cho là Tỳ kheo Bạt Nan Đà, một Tỳ kheo bán thế xuất gia khi đã lớn tuổi.

e/ Tất cả đều đồng ý giữ nguyên những gì do Phật chế, nhưng tùy nghi áp dụng, không thêm, cũng không bớt.

f/ Vấn đề tạng Luật: cả 3 bộ đều nhất trí cho rằng kết tập Luật tạng trước, do Ưu Ba Ly đảm trách, Kinh tạng sau, do A Nan thực hiện.

– Bộ Ngũ Phần: chỉ nói kết tập tạng Luật và tạng Kinh. Hai bộ kia thì bảo kết tập cả Luận tạng và do A Nan phụ trách, như sau:

– Bộ Tứ phần nói: điều gì liên quan đến những việc làm có nạn hay không có nạn, đều tập họp lại thành tạng Luận.

– Bộ Thập Tụng nói: Phật dạy rằng ai phạm 5 tội – sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu, thì sau khi chết sẽ đọa vào địa ngục nhanh như tên bắn. Đó là tạng Luận. Bộ này nói rõ: từ nay trở đi, mở đầu tất cả các bộ Kinh, Luật, Luận đều dùng câu: “Như thị ngã văn, nhất thời…”. (Tôi nghe như vầy, một thuở..).

Có một điều khiến chúng ta phải lưu ý: tuy xuất phát từ một Đại hội kết tập mà khi tường thuật lại vẫn có những điều dị biệt. Đó là do trình độ ghi nhận, phương thức trình bày và quan điểm của mỗi Bộ phát. Thế nhưng, đặc biệt tư liệu này nằm trong Luật tạng, được bảo trì khá tốt, và tương đối còn giữ được tính chất nguyên thủy và trung thực, chưa bị tình trạng “tam sao thất bổn” làm cho sai lạc. Vì vậy, khi cần đề cập đến lịch sử kết tập Tam Tạng giáo điển, chúng ta có thể yên tâm phần nào trong việc dẫn chứng về phương diện sử liệu.


Các bài viết khác

Lễ tiểu tường và cắt băng khánh thành cổng Tam quan chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Lễ tiểu tường và cắt băng khánh thành cổng Tam quan chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Tp. Nha Trang – Sáng ngày 01 tháng 9 năm 2019 (nhằm ngày mùng 03 / 8 / Kỷ Hợi) Bổn tự, Bổn đạo chùa Tây Thiên thành kính cung đón chư tôn thiền đức Tăng Ni quang lâm và quý Phật tử vân tập về chùa tham dự lễ Tiểu tường cố Hòa thượng đạo hiệu Thích Viên Tánh và cắt băng khánh thành cổng Tam quan chùa Tây Thiên...

Thư mời và chương trình lễ Tiểu tường cố Hòa thượng Thích Viên Tánh – Viện chủ chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Thư mời và chương trình lễ Tiểu tường cố Hòa thượng Thích Viên Tánh – Viện chủ chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Thấm thoát mà 365 ngày Hòa thượng Bổn sư đạo hiệu Thích Viên Tánh quảy dép về Tây, để lại hàng đệ tử nhiều nỗi kính thương vô hạn. Bổn tự, Bổn đạo thừa hành di huấn lúc Hòa thượng Bổn sư còn sinh tiền, tiếp tục thắp sáng ngọn đèn thiền “truyền đăng tục diệm”, mở rộng Già lam và trùng hưng Tam bảo...

Lễ Vu lan Báo hiếu năm 2019 tại chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Lễ Vu lan Báo hiếu năm 2019 tại chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Tp. Nha Trang - Ngày Phật Đà hoan hỷ, sáng ngày Rằm tháng 7 âm lịch (15/8/2019) Bổn tự, Bổn đạo thiết lễ Vu lan Báo hiếu - cúng dường Tự tứ tại chùa Tây Thiên, Tp Nha Trang, nguyện đem công đức này nguyện cầu cửu huyền thất tổ lịch đại tôn thân quá vãng sớm siêu sanh lạc quốc, thân quyến còn tại thế Bồ đề tâm tăng trưởng, sở nguyện như ý...

Khai mạc pháp hội Vu Lan Báo Hiếu năm 2019 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Khai mạc pháp hội Vu Lan Báo Hiếu năm 2019 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Sáng ngày 07 / 07 / 2019 (nhằm 07 / 7 Kỷ Hợi), đạo tràng chùa Phước Long, Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định đã trang nghiêm khai mạc pháp hội Vu Lan Báo Hiếu năm 2019, Phật lịch 2563 dưới sự chứng minh của chư tôn thiền đức Tăng Ni, cùng sự tham dự đông đảo của đạo hữu, Phật tử gần xa về tham dự...

Thư mời và chương trình Pháp hội Vu Lan Báo Hiếu và Húy kỵ Ân Sư năm 2019 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Thư mời và chương trình Pháp hội Vu Lan Báo Hiếu và Húy kỵ Ân Sư năm 2019 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Chùa Phước Long tổ chức Pháp hội Vu Lan Báo Hiếu 2019 cùng nhau tu tập kết mây lành để báo tiến Ân sư và hồi hướng phước báo đến Phụ mẫu sinh thành, thân bằng quyến thuộc còn tại thế thân tâm yên ổn; và cầu siêu cửu huyền thất tổ nhờ Phật lực và sức chú nguyện của chư Tăng trong ngày Tự tứ được siêu sinh dưỡng quốc...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

3386279