Trang chính » Tham cứu » Thiền tông »

Ngõ vào bản thể

Tác giả : Thích Minh Niệm

Minh họa, ảnh TK

Thực tại bí ẩn

Hiện nay các nhà khoa học đều cho rằng những gì mà chúng ta nhìn thấy trong thực tại đều không đúng như chính nó đang là. Immanuel Kant là một khoa học gia người Đức (1724-1804) đã từng phát biểu rằng: “Cái mà chúng tanhìn thấy chỉ là thứ thực tại được hiện lên đúng với trình độ mà chúng ta biết về nó mà thôi. Thực tại là chính nó, chúng ta không bao giờ biết được với tính chất của một hiểu biết khoa học”. Lời phát biểu này không được bao nhiêu người để ý. Rồi người ta vẫn tiếp tục không ngừng khảo sát, và lại cho rằng thực tại là một cái gì đó nhiều hơn không gian ba chiều của chúng ta. Chúng ta tạm gọi thực tại là một cái X nào đó thì vũ trụ có thể chỉ là một mảnh chiếu của thực tại trong không gian ba chiều này. Vậy phải chăng thực tại nhiều chiều hơn nên con người không thể tiếp cận, vì tri thức con người vốn đã bị không gian ba chiều giới hạn mất rồi?

David Bohm (1917-1992) là một nhà lượng tử xuất sắc người Mỹ lại phát hiện rằng: “Các hạt mà chúng ta đang thấy, khi ẩn khi hiện, sự vận động biến đổi ấy là do chúng nhận được sự điều khiển bằng thông tin từ một trường lượng tử (quantum potential)”. Theo David Bohm thì trường lượng tử đó có tính chất non-local (phi cục bộ) – không biết tới không gian và tác động nhau tức thì. Theo cách này thì trường lượng tử phải có chứa tâm thức, tức vạn vật trong vũ trụ tương tác với nhau bằng chính tâm thức của chúng. Khám phá này đã tạo ra nhiều cuộc tranh cãi quyết liệt. Và rồi các nhà khoa học cũng vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng, họ lại nghi vấn rằng phải chăng đằng sau thực tại này có một cái gì khác mà con người không thể biết? Sự khủng hoảng về bản thểhọc (ontology) của thế giới chúng ta chính là sự khủng hoảng của vật lý hiện nay. Nhưng mới đây, các nhà khoa học đã chứng minh lời nói của David Bohm là hoàn toànđúng đắn, đó là thí nghiệm khe đôi (double slit experiment). Tức là khi tách hai hạt electron rời ra, người ta thấy hạt bên này dao động theo hướng nào thì hạt bên kia cũng dao động theo hướng ấy.

Thí nghiệm này đã thật sự gõ vào cánh cửa bản thể của thế giới chúng ta rồi đấy. Tuy nhiên cánh cửa vẫn chưa mở ra. Vì các nhà khoa học vẫn còn nhiều bối rối, họ không thể tin rằng mọi sự mọi vật trên thế gian này đều không ngừng giao thoa với nhau, chịu tác động với nhau và tồn tại được là nhờ vào nhau. Bởi nếu theo sự thật này thì anh cũng chính là tôi và tôi cũng chính là anh, vì vậy nỗi khổ của anh cũng chính là nỗi khổ của tôi và hạnh phúc của tôi cũng chính là hạnh phúc của anh sao? Sự thật này vượt quá xa nền “văn minh nhân loại” tại thời điểm này, khi mà ai cũng đang cố gắng tích góp quyền lợi cho bản thân, hoặc vì quyền lợi của mình mà sẵn sàng chèn ép hay triệt tiêu kẻ khác. Cho nên, dù đã gõ được cánh cửa bản thể, nhưng khoa học sẽ không thể nào vào được thế giới bản thể khi mà khoa học vẫn còn đứng trên cái tôi đầy tự hào và tham vọng của khoa học.

Hiện tượng cũng là bản thể

Cách đây hơn 26 thế kỷ, ngài Siddhārtha Gautama đã đi vào thế giới của bản thể, đã đạt tới tự do và hạnh phúc tuyệt đối, nên người ta đã gọi ngài là bậc Giác ngộ hay đức Phật. Như vậy chữ đạo Phật có nghĩa là con đường đi vào thế giới bản thể, và điều này cũng có nghĩa ai theo đạo Phật tức là người ấy đã quyết tâm tham dự vào thế giới bản thể. Tuy nhiên, đức Phật cũng đã không ít lần ngại ngần giới thiệu thế giới bản thể đến đại chúng, và rồi cuối cùng Ngài cũng đã nói rất ít về thế giới kỳ bí ấy. Bởi lẽ, khi nói ra có thể sẽ làm kinh động tâm thức mọi người, sẽ khiến cho nhiều người nghi ngờ và xa lánh, nhất là sự giới hạn của ngôn từ sẽ dễ khiến cho nhiều người hiểu lầm rồi vướng kẹt vào đó.

Có lần, đức Phật hái một nắm lá trong rừng và hỏi các học trò: “Nắm lá trong tay ta nhiều hơn hay lá trong rừng nhiều hơn?”. Thầy Ananda thưa: “Dạ, dĩ nhiên lá trong rừng phải nhiều hơn chứ ạ”. Đức Phật ân cần nói: “Cũng vậy, những gì ta có thể nói ra cũng chỉ như lá trong nắm tay này thôi, còn những gì ta đã đạt được nhiều như lá ở trong rừng vậy”. Đây là lời nhắn nhủ rất quan trọng. Nếu ai muốn đạt tới những chân lý sâu xa hơn thì phải nỗ lực tu tập từ chính bản thân mà không nên tìm kiếm hay chờ đợi gì thêm nơi kinh nghiệm của kẻ khác. Bởi chân lý là thứ mà mỗi người phải tự đến và cảm nhận lấy, không thể nào dùng trí thông minh mà đạt được. Như vậy những bản kinh nào đã giới thiệu một cách chi li và hấp dẫn về thế giới bản thể (còn gọi là Niết-bàn, chân như, bản lai diện mục hay Phật tánh) là do sự cố gắng diễn giải của các vị học trò tiếp nối đức Phật. Sự cố gắng ấy tưởng chừng sẽ giúp mọi người tiến gần với bản thể hơn, nhưng đó lại là cái bẫy khiến bao người tu tập đánh mất thực tại vì chìm đắm trong mộng tưởng Niết-bàn.

Đức Phật thì khác. Ngài luôn dạy những điều rất gần gũi, chủ yếu thức tỉnh mọi người hiểu rõ sự thật về cuộc sống hiện tại. Như bản chất của tiền bạc, danh vọng, quyền lực hay sắc dục tuy đem lại những cảm xúc hấp dẫn nhưng nó sẽ mau chóng hoại diệt và sẽ để lại sự nghiện ngập. Đức Phật chỉ ra có một thứ hạnh phúc khác ít phải trả giá hơn nhưng tồn tại lâu bền hơn, có thể tìm thấy ngay trong giờ phút hiện tại mà không cần phải chờ đợi hay tranh đấu với ai, đó là quay về nương tựa chính mình. Tức là mỗi người phải xây dựng cho mình thói quen chú ý và quan sát tất cả những gì mình cảm nhận được ngay trong thực tại, nhưng đối tượng quan trọng nhất chính là thái độ sống của mình. Để từ đó ta có thể thấu hiểu cơ chế tâm thức của mình hoạt động như thế nào, tại sao nó lại phát sinh những phản ứng như thế. Khi ấy, ta mới chuyển hóa được những năng lượng xấu như sợ hãi, nghi ngờ, tức giận, kỳ thị, hận thù; và phát huy những năng lượng tốt như lắng nghe, chấp nhận, tha thứ, buông xả, tùy thuận. Khi thói quen mong cầu và chống đối bị bào mòn, tự nhiên ta sẽ chấp nhận và sống sâu sắc với thực tại. Hạnh phúc từ đó nảy nở.

Khi ta đã nhận ra hạnh phúc hay khổ đau là tùy thuộc vào chính tâm mình chứ không phải tại nơi hoàn cảnh bên ngoài, thì ta sẽ không còn đổ thừa hay trách móc hoàn cảnh hoặc hy vọng về một thế giới hạnh phúc xa xăm nào nữa. Tuy nhiên, dù đã quay về nương tựa nơi bản thân để tìm thấy những giá trị hạnh phúc thật hơn, nhưng nếu ta vẫn còn thấy mình với người kia là hai cá thể hoàn toàn khác biệt nhau thì chắc chắn ta vẫn còn thái độ phân biệt đối xử. Tức là nếu ta vẫn còn mong mỏi những hoàn cảnh thuận lợi và sẵn sàng kháng cự lại những hoàn cảnh trái nghịch, thì ta vẫn còn bị chi phối bởi vô thường, còn phải chịu thăng trầm và khổ đau. Vì vậy, đức Phật lại tiếp tục hướng dẫn những bài thực tập sâu sắc hơn. Thí dụ nếu quan sát kỹ ta sẽ thấy hơi thở vào ra chỉ là sự vay mượn từ không khí chứ không phải là của ta, hay mỗi khi ăn uống ta cũng thấy rằng mình tồn tại được là nhờ sự góp sức của vô số điều kiện trong vũ trụ. Rõ ràng ta chỉ là một hợp thể vay mượn không hơn không kém. Ta vốn tương tác với vạn sự vạn vật.

Sự thực tập này nếu muốn đi xa hơn thì cần phải có một không gian thích hợp để nuôi dưỡng, vì thói quen của hầu hết mọi người là chạy theo hoàn cảnh và vướng kẹt vào chúng. Thế nên, để thực hiện mục tiêu tháo gỡ tận cùng những lớp nhận thức sai lầm về cái tôi, cũng như tháo gỡ những cố tật phiền não đã bao bọc thành những bức tường kiên cố để bảo vệ quyền lợi cho cái tôi, thì ta phải can đảm tạm thời rời xa những môi trường nặng mùi danh lợi. Tình cảm và danh dự là hai yếu tố rất dễ tạo ra những vai vế giả tạo rồi khiến ta tự đồng hóa toàn bộ con người của mình với chúng, quên mất mình vốn là ai. Nhưng nếu những nơi tu tập vẫn không tránh khỏi sự xâm lấn của danh lợi thì ta phải can đảm từ bỏ nơi ấy để đi vào miền hoang dã, nương tựa và học hỏi với thiên nhiên. Ta phải tách mình ra khỏi cái gọi là “văn minh nhân loại” một thời gian đủ lâu để cho cái tôi với quá nhiều vai vế bị cô lập và tháo tung. Bấy giờ ta mới có hy vọng vào được bản thể.

Trong thế giới của bản thể thì không có trước sau, trên dưới, đẹp xấu, cao thấp, nam bắc, đến đi, tan hợp, sống chết… Bởi những cặp tương đãi ấy chỉ có khi ta thấy mình là một cái tôi riêng biệt. Trong khi ta cũng như những con sóng, tuy khác nhau về mặt hình tướng cao thấp nhưng tất cả cũng đều có chung tính chất là nước, nên thay vì so sánh để có thái độ kỳ thị nhau thì ta hãy chấp nhận và yêu thương nhau. Ta cũng chẳng khác gì bãi cát, nên khi những hạt cát nơi này bị thổi đi nơi khác hay những hạt cát nơi khác bay đến nơi này ta cũng không hề thấy có sự tan biến hay hoại diệt gì cả, vì nơi này hay nơi khác cũng đều là bãi cát kia mà. Cho nên vào thế giới bản thể có nghĩa là cũng con người này, cũng thế giới này, nhưng tâm ta vượt lên cung bậc cao hơn. Ta nhìn thực tại bằng con mắt không so sánh phân biệt. Ta tôn trọng và yêu thương mọi cá thể khác như chính thân mạng mình. Bởi lẽ, ta không chỉ tương tác mà còn tương tức với vạn sự vạn vật. Tương tức nghĩa là cái này cũng đồng thời là cái kia, anh là tôi mà tôi cũng chính là anh.

Như vậy, đức Phật tuy đã trình bày về hai sự thật (Nhị đế) đang tồn tại trong cuộc sống của chúng ta là thế giới hiện tượng (Tục đế) và thế giới bản thể (Chân đế), nhưng đức Phật vẫn khẳng định rằng cửa ngõ vào thế giới bản thể chính là khả năng thấu triệt và vượt thoát được sự khống chế của thế giới hiện tượng. Tức là không có cái thế giới bản thể nào nằm ngoài thế giới hiện tượng, cũng như không có cái đại dương nào nằm ngoài những con sóng hay không có cái bãi cát nào nằm ngoài những hạt cát cả. Vậy nó nằm ở đâu? Nó cũng chính là thế giới hiện tượng mà chúng ta đang tiếp xúc và cảm nhận qua giác quan bình thường đấy thôi. Chỉ có điều ta cần phải vượt thoát bức tường vĩ đại tham-sân-si, tháo tung được các vỏ bọc giả tạo của cái tôi thì ta sẽ vào được bản thể. Nói cách khác, khi đạt tới cái thấy siêu tuyệt rằng ta với vạn vật cũng là một thì tâm ta sẽ phát sinh ra năng lượng có tần số thích ứng với tần số năng lượng của mọi cá thể trong thực tại, nên ta sẽ nhìn thấy rất rõ sự thật về chúng. Vô ngã chính là nơi gặp-gỡ-chân-thật của thực tại.

Đến đây, ta có thể phát biểu rằng hiện tượng cũng chính là bản thể, vì nó tùy thuộc vào sự phản ánh của trình độ tâm thức con người. Nghĩa là tâm ta như thế nào ta sẽ nhìn thấy thực tại như thế ấy, đúng với câu nói nổi tiếng của đức Phật: “Vạn pháp duy tâm tạo”. Nhưng nếu ta không có khả năng vào được thế giới bản thể, hoặc ta không muốn vào thì ta cũng có thể tìm thấy hạnh phúc tương đối từ thế giới tương đối, với điều kiện phải thiết lập đời sống tỉnh thức để ta luôn hiểu rõ chính mình và hoàn cảnh. Sống cho thật sâu sắc và đối xử tử tế với mọi người là ta đã sống xứng đáng một kiếp người rồi. Còn nếu ta thực sự muốn nếm trải cảm giác Niết bàn – thứ hạnh phúc tuyệt đối ngay giữa cuộc đời này thì bắt buộc ta phải lột xác. Lột xác là tháo gỡ từng mảnh “vai diễn” tạo nên cái tôi hư ảo, chứ không hẳn là chối bỏ tất cả để khoác lên mình chiếc áo tu hành đâu. Bởi tu hành không khéo thì cũng chỉ tạo thêm vai diễn mà thôi. Gạt bỏ hết sự hưởng thụ của cái tôi để vào được bản thể thì cũng đáng để ta đánh đổi lắm chứ. Chỉ e ngại rằng lối vào bản thể quá mênh mông và có khá nhiều cạm bẫy mà ta không đủ sáng suốt để nhận ra.

Con sóng về đại dương
Trôi lăn hoài vất vả
Biết đâu là cố hương
Thuyền còn neo bến lạ.


Các bài viết khác

Thông báo: Website đang trong quá trình nâng cấp

Thông báo: Website đang trong quá trình nâng cấp

Website www.bodephatquoc.com đang trong quá trình nâng cấp, chúng con kính gửi đến chư tôn đức và quý độc giả của trang nhà hoan hỷ xem tạm qua trang demo...

Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm

Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm

Bát chánh đạo với Tứ vô lượng tâm không thể tách biệt lẫn nhau trong một đời sống có ý thức cao về vấn đề tự giác và giác tha. Nên, Tứ vô lượng tâm không thể tách biệt Bát chánh đạo. Bởi vì, Bát chánh đạo là thuộc về tự giác và Tứ vô lượng tâm là thuộc về giác tha. Nhưng, vấn đề tự giác hay giác tha là hai yếu tố không thể tách rời nơi một thực thể giác ngộ, mà chúng là hai mặt của một đời sống giác ngộ...

Người biết đặt gánh nặng xuống

Người biết đặt gánh nặng xuống

Con người cũng có khả năng tạo ra nhiều phước đức và cũng có khả năng tạo ra nhiều tội lỗi cho chính mình; con người vừa có khả năng che chở và bảo hộ muôn loài trên trái đất, và con người cũng vừa có khả năng sát phạt và hủy diệt muôn loài trên trái đất...

Chương trình “Pháp hội Dược Sư – Cầu an đầu năm 2020” tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Chương trình “Pháp hội Dược Sư – Cầu an đầu năm 2020” tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Hàng năm vào dịp đầu xuân, Bổn tự chùa Phước Long trang nghiêm thiết lễ khai đàn “Pháp hội Dược Sư - Cầu an đầu” để cho tứ chúng nương tựa tu học, khởi lên thiện tâm, gieo trồng căn lành trong năm mới. Vì vậy Bổn tự kính mời quý đạo hữu Phật tử, thiện tri thức gần xa cùng nhau vân tập về chùa để tu học...

Thư chúc Tết và chương trình Xuân Canh Tý 2020 tại chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Thư chúc Tết và chương trình Xuân Canh Tý 2020 tại chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Tết cổ truyền –  mừng Xuân Canh Tý 2020, Chùa Tây Thiên, thành phố Nha Trang tổ chức chương trình “Xuân Di Lặc” với những sinh hoạt vui xuân mang đậm nét đẹp truyền thống của dân tộc, pháp thoại đầu năm, khóa lễ Dược Sư, dâng sớ cầu an đầu năm, rút thăm trúng thưởng...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

5090692