Trang chính » Phật Quốc Online » Tài liệu tham khảo »

Nhật Liên tông và giáo đoàn

Tác giả : TT. Thích Nguyên Tâm

Minh họa, ảnh PGTG

Nhật Liên (日蓮, Nichiren), người không hề tiếc sinh mạng để tìm cầu Phật pháp, để bảo vệ chân lý và cứu độ mọi người, người đã lấy Kinh Pháp Hoa để làm tư tưởng trung tâm cho giáo lý của mình. Chính sư đã sùng bái Kinh Pháp Hoa mà than thở rằng: “ta chẳng thương thân mạng nầy, mà chỉ tiếc cho đạo vô thượng”, và sư đã từng phỉ báng những tín ngưỡng xưa nay như: “Niệm Phật là Vô Gián, Thiền là Thiên Ma, Chơn Ngôn là vong quốc, Luật là quốc tặc.” Cho dù có bị ném đá, lưu đày ra đảo xa đi nữa, sư cũng rán chịu đựng, không sợ chết. Sư tình ông là một vị tu sĩ hy sinh vì đạo.

I- Cuộc đời của Nhật Liên

1- Tại Thanh Trừng Tự

Sư sinh ra vào năm đầu (1222) niên hiệu Trinh Ứng (貞應), tại Làng Đông Điều (東條), Quận Trường Hiệp (長狹), tiểu quốc An Phòng (安房, Awa, thuộc Chiba-ken ngày nay). Tự bản thân sư cho mình vốn xuất thân là “con của dân hà tiện” hay “con của giai cấp Chiên Đà La”, nhưng thực tế không đến nỗi cùng mạt như vậy. Sư vốn sinh ra trong một gia đình võ sĩ vốn chuyên làm nghề cá ở ven biển. Sở dĩ sư tự cho mình có thân phận thấp hèn như vậy vì sư muốn nhấn mạnh sự vĩ đại của kinh Pháp Hoa mà thuyết về giáo lý chân chính của đức Thế Tôn cho rằng bất cứ ai cũng được cứu độ, dù hạng người có thấp hèn bao nhiêu đi chăng nữa. Bời vì đương thời dưới thời đại Liêm Thương, những người có thân phận nô lệ thì khi vào chùa cũng không được học tập cũng như tu hành cho đầy đủ được.

Như vậy, Nhật Liên cũng là một nhân vật sống cùng thời đại Liêm Thương với Đạo Nguyên của Tào Động Tông, khi ông ra đời thì Đạo Nguyên đã 22 tuổi, đang thọ giáo với Minh Toàn ở Kiến Nhân Tự của Lâm Tế Tông.

Năm lên 12 tuổi, Nhật Liên đến xuất gia ở ngôi chùa gần nhà là Thanh Trừng Tự (清澄寺). Chính những thông tin liên quan đến khoảng thời gian tu tập ở đây chẳng còn lại ký lục nào cả. Ta chỉ biết cha mẹ ông vẫn còn sống mà thôi. Như vậy trường hợp ông có khác với Pháp Nhiên thì cha bị giết trong vụ đột kích vào nữa đêm, hay Thân Loan thì mất hết nhà cửa, còn Nhất Biến thì mất mẹ, v.v.

Thanh Trừng Tự là ngôi chùa của Thiên Thai Tông, nhưng Thiên Thai Tông là Phật Giáo mang tính tổng hợp, dung hợp cả bốn tông, nên phải nói là kinh điển cần phải học có vô số. Tuy nhiên trong đó vẫn có kinh điển căn bản là Pháp Hoa Kinh.

Nỗi quan tâm lớn nhất của người dân đương thời là cuộc sống phồn vinh của đời nầy và vãng sanh về thế giới Cực Lạc sau khi chết. Chính vì vậy, lúc bấy giờ người ta thường xướng tụng đề mục Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (南無妙法蓮華經, Namumyōhōrengekyō) của Pháp Hoa Kinh để cầu cho hiện đời, và niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật (南無阿彌陀佛, Namuamidabutsu) để cầu được vãng sanh khi lâm chung.

Trong khi tu học tại Thanh Trừng Tự, Nhật Liên đã không hài lòng với Tịnh Độ Giáo vốn đang thịnh hành đương thời. Kể từ thời Bình An trở đi, Tịnh Độ Giáo đưa ra thuyết Lâm Chung Chánh Niệm, có nghĩa rằng ngay khi lâm chung, hành giả giữ thái độ bình tĩnh, an ổn với chánh niệm mà niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật thì sẽ được vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Còn nếu chết đi với hình dáng đau khổ thì sẽ đoạ xuống địa ngục.

Chính vì không muốn đọa xuống địa ngục nên ở Thanh Trừng Tự cũng có nhiều vị tăng chuyên tâm niệm Phật. Tuy nhiên thực tế đã làm cho Nhật Liên càng chất chứa thêm nhiều nghi vấn. Có nghĩa rằng không phải hết thảy mọi người trong giây phút lâm chung ai cũng niệm Phật cả. Rồi cũng có trường hợp có vị tăng chết đi trong trạng thái đau khổ vì bệnh hoạn, và thậm chí vị cao tăng đức độ đi nữa vẫn lâm vào trường hợp như vậy.

2- Phát hiện ra Kinh Pháp Hoa

Nhật Liên trong thâm tâm vẫn luôn mong mỏi tìm cầu Phật Giáo chân thật, một vị thầy sáng suốt để dẫn dắt cho mình trên con đương tu tập. Vì lẽ đó, sư bắt đầu rời xa Thanh Trựng Tự, lên đường vân du đến các ngôi chùa nỗi tiếng ở vùng Liêm Thương, rồi kinh đô Kyoto, trung tâm của Phật Giáo. Trong khoảng thời gian ấy, nơi sư lưu lại lâu nhất là Diên Lịch Tự, ngôi chùa trung tâm của Thiên Thai Tông trên Tỷ Duệ Sơn; nhưng cuối cùng sư vẫn trở về lại chùa cũ của mình. Như vậy sư rời Thanh Trừng Tự lúc 19 tuổi và trở về lại chùa nầy lúc 31 tuổi.

Trong suốt hơn mười năm trường lặn lội đi tìm minh sư, cuối cùng ông chẳng tìm ra được cho mình vị thầy xứng đáng để nương tựa. Ông trở về tập trung nghiên cứu các kinh điển, trong đó Kinh Niết Bàn có dạy rằng: “y pháp bất y nhân”, rồi trong kinh Vô Lượng Nghĩa có dạy thêm rằng: “Trước thời của Pháp Hoa vẫn chưa hiển lộ chân thật”. Vì vậy ông cho rằng chỉ có Pháp Hoa Kinh mới là tối thượng, là giáo lý chân thật.

Thế thì tại sao Nhật Liên lại quá say mê với kinh nầy như vậy ? Trên hình thức thì Kinh Pháp Hoa là kinh điển do đức Thích Ca thuyết ra, nhưng thực tế nó không phải kinh do ngài viết ra, mà cũng chẳng phải là ký lục ghi lại những lời ngài đã từng thuyết giảng. Có thể nói nó là tổng hợp của tất cả kinh điển Phật Giáo. Pháp Hoa Kinh là kinh điển được thành lập ở vùng Tây Bắc Ấn Độ khoảng trước sau thế kỷ thứ nhất Tây Lịch, cách mấy trăm năm sau khi đức Phật diệt độ, tức khoảng 2000 năm trước. Nhật Liên thấy được rằng chỉ có kinh nầy mới có thể cứu vãn nhân loại thoát ra khỏi vòng khổ đau. Hơn nữa tinh thần của kinh nầy lại rất hợp với tánh chất của ông.

Pháp Hoa là kinh điển cùng sánh ngang hàng với các kinh điển của Tịnh Độ, với Đại Nhật Kinh hay Kim Cang Đảnh Kinh của Chơn Ngôn Mật Giáo, và đã được tín sùng ở miền bắc bộ châu Á. Tư tưởng trung tâm của kinh nầy được chia làm hai phần:

– Phần thứ nhất là hết thảy nhân loại bất kể ai đều quy nhập vào thế giới hòa bình lý tưởng, cực lực đả phá chủ nghĩa ích kỷ mang tính sai biệt, không bình đẳng để cùng nhau hội nhập vào thế giới hòa bình vô phân biệt. Đó chính là lời dạy đầy tâm từ bi cứu độ của đức Thích Tôn, cũng là tinh thần của Đại Thừa giáo.

– Phần thứ hai là cách đây hơn 2500 năm trước, đức Thích Tôn đã thành Phật Đà, nhưng thật ra ngài đã thành Phật từ hằng hà sa số kiếp về trước rồi, và từ đó đến nay ngài vẫn luôn giáo hóa chúng sanh trên toàn vũ trụ nầy.

Chính tinh thần có hai tánh cách như vậy đã thẩm thấu vào trong khí chất của con người Nhật Liên. Chính trong sư cũng có hai tánh cách vốn rất phù hợp với Kinh Pháp Hoa. Đó là sự mãnh liệt của cảm tình tạo nên một khuynh hướng có thể tìm thấy dưới thời đại Liêm Thương. Mặt khác, sưg là người rất cương trực, thẳng thắn, không thích xua nịnh. Chính một vài hình tựợng của Nhật Liên còn lưu lại ở các tiểu quốc cũng cho ta biết rất rõ cá tính của ông như thế nào. Cho nên thái độ truyền đạo của Nhật Liên rất tích cực, có đặc sắc nỗi bật mang tính xâm lược và chiến đấu tới cùng.

3- Thuyết giảng Kinh Pháp Hoa

Khi trở về Thanh Trừng Tự và phát hiện ra được Kinh Pháp Hoa là kinh điển duy nhất cho mình nương tựa tu tập và hóa đạo, Nhật Liên bắt đầu thuyết giảng kinh nầy ở tại ngay ngôi chùa của Thiên Thai Tông nầy. Ban đầu sư cũng không gặp trở ngại gì trong việc truyền đạo, vì Pháp Hoa Kinh cũng là kinh điển căn bản của Thiên Thai Tông. Nhờ vậy, dần dần tín ngưỡng Pháp Hoa cũng được lan rộng ra với mọi người. Tuy nhiên, tín đồ có quyền lực của chùa nầy lại theo Tịnh Độ, nên đã nảy sinh đối lập với ông. Trong cuộc xét xử liên quan đến vấn đề trang viên, Nhật Liên đã thua kiện trước người tín đồ nầy, và cuối cùng sư đành phải từ bỏ quê hương mà ra đi lần nữa. Sự việc nầy xảy ra vào năm 1253, lúc sư 32 tuổi.

Sư bắt đầu cuộc sống tha phương phóng lãng đó đây, rồi sau đó ra khỏi vùng Liêm Thương. Đương thời tại Nhật Bổn thiên tai xảy ra rất nhiều và chính điều nầy đã gây phản ứng mẫn cảm cho Nhật Liên. Sư nghĩ rằng tại sao thiên tai lại liên tục xảy ra như vậy, có phải chăng Nhật Bản đang xem trọng tín ngưỡng sai lầm. Nếu như vậy thì chắc chắn bảy tai nạn lớn sẽ xảy đến. Đương thời 5 tai nạn lớn đã xảy ra ở Nhật rồi. Còn hai tai nạn lớn nữa là trong nước nỗi lên phản loạn, và giặc ngoại quốc đến xâm lăng. Thế thì phải làm thế nào đây để cứu vãn đất nước đang trong tình trạng sắp diệt vong như thế nầy ? Đó là thao thức lớn của Nhật Liên. Không gì hơn là người Nhật phải tin vào Kinh Pháp Hoa mà thôi.

Với suy nghĩ như vậy, Nhật Liên viết bộ Lập Chánh An Quốc Luận (立正安國論, Risshōankokuron), rồi đem trình lên cho Tướng Quân Bắc Điều Thời Lại (北條時賴, Hōjō Tokiyori) của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương vào năm 1260. Vị Tướng Quân nầy là người rất sùng tín Thiền Tông và Niệm Phật, cũng từng kết giao với khá nhiều tăng sĩ của Thiên Thai Tông cũng như Chơn Ngôn Tông, cho nên không có lý gì mà ông đồng ý với lập trường của Nhật Liên được.

Trước tình hình như vậy, Nhật Liên bắt đầu phê phán tín đồ niệm Phật. Sự phê phán nầy càng lúc càng mãnh liệt, đến nỗi tín đồ niệm Phật ngày đêm tấn công, đốt phá thảo am của sư, thậm chí còn dùng võ khí bức hại tính mạng sư; tuy nhiên sư vẫn không hề nao núng, mà càng phê phán mạnh hơn, đôi khi sư không từ nan trong việc cầm võ khí chống lại. Trước tình hình trị an rối ren như vậy, chính quyền Mạc Phủ đành phải nhúng tay vào. Vào năm 1261, họ bắt Nhật Liên đem đi lưu đày ở tiểu quốc Y Đậu.

Sau ba năm trường bị lưu đày tại đây, vào năm 1263, sư được xá tội và trở về Liêm Thương. Năm sau, hay tin mẫu thân qua đời, sư trở về cố hương lo tang mẹ, và chính tại nơi đây sư truyền bá tín ngưỡng Pháp Hoa. Tuy nhiên, sư đã gặp nhiều sự công kích dữ dội. Có hôm nọ, khi đi ngang qua địa phương Đông Điều Tùng Nguyên (東條松原), sư và môn đệ bị nhóm Đông Điều Cảnh Tín (東條景信, Tōjō Kagenobu, ?-?) đột kích, làm cho một người bị chết, hai người khác bị trọng thương, còn chính bản thân sư thì bị thương trên đầu và gãy hai tay, đến khi trở về lại Liêm Thương, sư chỉ còn lại khoảng 10 tín đồ cả tăng lẫn tục.

4- Bài xích các tông phái khác

Vào năm 1268, sứ thần Mông Cổ đến Cửu Châu trình quốc thư của Hoàng Đế Hubilai cho thiên triều Nhật với nội dung buộc triều đình Nhật phải triều cống, nếu không thì Mông Cổ sẽ cử binh sang đánh. Sự việc nầy đã tạo làn sóng dao động mãnh liệt trong chính giới cũng như quốc dân Nhật. Ai ai cũng nơm nớp lo sợ đại quân Mông Cổ đến xâm lăng. Chính ngay lúc nầy, Nhật Liên mới cảm nhận được sứ mạng cao cả của mình hơn. Đại nạn gọi là quân ngoại quốc đến xâm lăng nước Nhật thì ông đã trình bày rõ trong bộ Lập Chánh An Quốc Luận rồi. Lợi dụng thời cơ nầy, một lần nữa sư trình bộ nầy lên cho Tướng Quân chấp quyền đương thời là Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) để cho chính quyền Mạc Phủ nhìn thấy lời tiên đoán của sư là chẳng sai tí nào.

Bên cạnh đó, sư cực lực bài xích Tịnh Độ Tông cũng như các tông phái khác và khuyên mọi người nên tín sùng Kinh Pháp Hoa. Chính lúc nầy sư đã dùng câu đả kích thậm tệ rằng: “Niệm Phật là Vô Gián, Thiền là Thiên Ma, Chơn Ngôn là vong quốc, Luật là quốc tặc.”

Việc nầy dẫn đến một tình tiết khá lý thú như sau. Có lúc nọ, khắp vùng Liêm Thương trời nắng chan chan, ai ai cũng than vãn vì hạn hán, cho nên mọi người bắt đầu cầu mong trời mưa. Lúc bấy giờ có vị tăng Nhẫn Tánh (忍性, Ninshō) của Chơn Ngôn Luật Tông từ Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) vùng Nại Lương đến. Sư là người có đức độ, được cả dòng họ Bắc Điều quy y theo, và nỗi tiếng với năng lực cầu mưa. Nhẫn Tánh đăng đàn cầu mưa suốt mấy ngày đêm, nhưng chẳng có hạt mưa nào rơi cả, có đọc kinh đi nữa cũng không có hiệu nghiệm. Thấy vậy, Nhật Liên cười vang bảo rằng:

– Quả đúng là Luật Tông chẳng được tích sự gì cả.

Nhẫn Tánh mất mặt ra về. Qua việc nầy, tu sĩ và tín đồ các tông phái khác rất phẫn uất Nhật Liên, nên họ ra mặt chống đối và đàn áp môn đồ Nhật Liên. Sự tình trong nước rối ren do vì Nhật Liên chống đối các tông phái gây loạn lạc nhiễu nhương, và bên ngoài thì mối đe dọa xâm lăng của quân Mông Cổ vẫn luôn nơm nớp trong tâm quần chúng nhân dân và nhất là chính quyền Mạc Phủ. Để dẹp yên trong nước, chính quyền Mạc Phủ hạ lệnh bắt giam và xử trảm Nhật Liên ở ngoại ô Liêm Thương, với tội là nói xấu người khác.

Tương truyền khi bắt đầu chuẩn bị hành hình, trời bỗng nhiên tối lại, sấm sét đùng đùng, sét lại đánh trúng ngay cây đại đao của tên lính xử trảm, làm cho cây đao gãy nát ra từng mảnh. Trước hiện tượng lạ như vậy, Nhật Liên được tha tội chết và chịu tội lưu đày.

5- Một đời tranh đấu

Việc Nhật Liên được ân xá cũng phát xuất từ nguyên nhân lúc bấy giờ vợ của Bắc Điều Thời Tông đang mang thai. Thế nhưng đứng về phía Nhật Liên, sư vẫn thấy rằng đó chính là sự linh nghiệm của Kinh Pháp Hoa, cho nên sư lại càng tăng thêm niềm tin và nghị lực tranh đấu cho lý tưởng của mình.

Thế là sư bị lưu đày đến vùng Tá Độ, một nơi trước kia biết bao nhiêu tăng sĩ đã từng bị đưa đến. Lúc đó vào mùa đông giá lạnh, nên sư phải chịu nhiều thảm cảnh trong khi lưu đày, phải chiến đấu với khí hậu khắc nghiệt và với tuổi ở độ 50.

Cùng lúc đó, hơn 210 tín đồ của sư hiện đang ở tại Liêm Thương cũng như các địa phương khác cũng phải chịu sự áp bức kịch liệt của chính quyền Mạc Phủ và các tông phái khác, nhất là Tịnh Độ Giáo. Họ hầu như sắp rơi vào tình trạng đi đến diệt vong.

Trước tình hình như vậy, Nhật Liên cũng phải nuốt lệ xót thương cho môn nhân của mình mà thôi. Chính trong khoảng thời gian lưu đày nơi đây, sư đã trước tác ra nhiều tác phẩm sánh ngang hàng với Lập Chánh An Quốc Luận như Khai Mục Sao (開目抄), Quán Tâm Bổn Tôn Sao (觀心本尊抄), v.v.

Đến năm 1274, sau hơn hai năm rưỡi bị lưu đày tại Tá Độ, Nhật Liên được xá tội, và sư trở về lại Liêm Thương. Khi ấy đúng vào trước lúc quân Mông Cổ chuẩn bị tấn công vào Nhật.

Ngay khi ấy, chính quyền Mạc Phủ liền cho triệu hồi Nhật Liên đến để tiên đoán xem thử tình hình quân Mông Cổ như thế nào, chúng sẽ tấn công vào ra sao, v.v. Và tương truyền rằng họ cũng nhờ sư cầu đảo để cho quân Mông Cổ rút lui nữa.

Như vậy ta thấy rằng thật ra khi quân Mông Cổ tuyên chiến với chính quyền Mạc Phủ, những người cầm quyền đã nhận thấy được lời tiên đoán của Nhật Liên là đúng, nhưng họ phải lưu đày sư vì để dẹp yên tình hình trong nước thông qua cuộc đối kháng giữa Nhật Liên và các giáo phái khác. Hơn nữa, đó cũng là kế sách để làm cho các nhà lãnh đạo không gây khó khăn cho chính quyền. Thế nhưng, tài năng của Nhật Liên là sự thật, nên cho dù thân bị lưu đày, nhưng sau khi được xá tội, chính quyền vẫn trọng dụng sư.

Tuy nhiên, sư đã không chấp nhận lời yêu cầu làm lễ cầu đảo, đến lần thứ ba sư lên tiếng khẩn cầu Bắc Điều Thời Tông hãy nên tin tưởng Kinh Pháp Hoa. Lần thứ nhất sư khuyên can với Thời Lại là vào năm 1260, lần thứ với Thời Tông vào năm 1268. Nhưng, Tướng Quân nhất định không nghe theo, nên sư quyết định rời Liêm Thương, vào núi ẩn tu. Đó là Thân Diên Sơn (身延, Minobu), thuộc tiểu quốc Giáp Phỉ (甲斐, Kai, thuộc Yamanashi-ken ngày nay).

Chính trong khoảng thời gian nầy, rất nhiều người đã quy tụ về đây để tu học với Nhật Liên. Tỷ dụ như trường hợp Phú Mộc Thường Nhẫn (富木常忍, Toki Jōnin, 1216-1299) ở vùng Hạ Tổng (下總), đã đem hài cốt của thân mẫu từ xa đến để xin Nhật Liên thường xuyên cầu nguyện hồi hướng cho mẹ. Hay như Viễn Đằng Cửu Lang Thạnh Cương (遠藤九郎盛綱), tín đồ ở vùng Tá Độ, nơi ngày xưa sư đã từng bị lưu đày, cũng đã lặn lội băng rừng mang di cốt cha mình đến Thân Diên với mong mỏi sao tương lai vĩnh kiếp được hầu hạ bên Nhật Liên.

Các môn đệ của sư cũng đã từng cho con mình đến Thân Diên phục dịch, hầu hạ Nhật Liên. Như trường hợp Nhật Mục (日目) đã từng hầu hạ Nhật Liên suốt 7 năm trường, v.v. Tất cả đều phát xuất từ sự cảm kích lớn lao về lòng từ ái của Nhật Liên đối với hàng đệ tử của mình. Như sư đã từng bảo rằng:

“Tỷ dụ đức Thích Ca Thế Tôn có dạy Nhật Liên nầy làm Phật đi chăng nữa, nhưng nếu như tội các con sâu nặng mà bị rơi vào ác đạo, thì Nhật Liên nầy cũng xuống Địa Ngục với các con.”

Vào năm 1281, hơn mười vạn quân nhà Nguyên tấn công ồ ạt đến, tuy nhiên cuối cùng chúng phải chạy trốn về. Như vậy lời tiên đoán của Nhật Liên bị sai. Chính trong thời gian nầy, Bắc Điều Thời Tông cũng qua đời quá sớm ở độ tuổi 30 do vì quá lao lực trong trận chiến với quân Nguyên.

Nơi Thân Diên, sức lực của Nhật Liên càng lúc càng giảm sút và đến ngày 13 tháng 10 năm 1282, Nhật Liên trút hơi thở cuối cùng lúc61 tuổi, tại ngôi trang viên của người đệ tử ở vùng Trì Thượng (池上), Võ Châu (武州, gần kinh đô Kyoto).

II- Giáo đoàn sau khi Nhật Liên qua đời

Mấy ngày trước khi qua đời, Nhật Liên có chọn ra 6 người đệ tử để lập thành nhóm đệ tử chân truyền, được gọi là Lục Đại Đệ Tử. Đó là Nhật Chiêu (日昭, Nisshō), Nhật Lãng (日朗, Nichirō), Nhật Hưng (日興, Nikkō), Nhật Hướng (日向, Nikō), Nhật Đảnh (日頂, Nicchō) và Nhật Trì (日持, Nichiji). Nhật Liên còn di chúc lại rằng di hài của sư đem an táng tại Thân Diên, và cho người luôn canh giữ mộ phần.

1- Tiến về kinh đô

– Một số lo tống táng ở Trì Thượng, làm lễ trà tỳ và đem hài cốt của sư về Cửu Viễn Tự (久遠寺, Kuon-ji) ở Thân Diên. Sau đó, chỉ còn lại Nhật Hưng và môn đệ của sư ở lại lo canh giữ mộ phần Nhật Liên mà thôi. Nhưng do vì xảy ra mối bất hòa với vị chủ lãnh Thân Diên, nên Nhật Hướng được cử chức Biệt Đương thay thế cho Nhật Hưng. Còn Nhật Hưng thì đến địa phương Tuấn Hà (駿河, Suruga) xây dựng một ngôi chùa mới tên Đại Thạch Tự (大石寺, Taiseki-ji). Như vậy, Nhật Hưng hình thành nên dòng phái riêng của mình gọi là Phái Phú Sĩ. Còn lại 5 vị kia phần lớn chiếm lĩnh vùng Liêm Thương.

– Nối tiếp di chí của thầy, chính Nhật Tượng (日像, Nichizō), môn hạ của Nhật Lãng, đã tiến hành truyền đạo lên kinh đô Kyoto, nơi mà xưa kia vị tông Tổ Nhật Liên đã từng mong muốn mà không thành. Phong cách truyền đạo của vị nầy rất kỳ lạ. Để đối với tính cách trầm lặng của người dân nơi đây, sư đã truyền đạo lớn tiếng oang oang ngoài đường, làm cho hàng nhân sĩ đế đô phải kinh ngạc theo và tạo sự chú mục cho mọi người. Cho nên trong khoảng thời gian hóa đạo nơi đây, sư đã ba lần bị tống ra khỏi kinh đô, nhưng ý chí của sư vẫn không hề bị lay chuyển chút nào. Sau đó, nhờ có sự ủng hộ của nhiều người, nên sư đã công nhiên xây dựng Diệu Hiển Tự (妙顯寺, Myōken-ji) trên kinh đô, pháp thành đầu tiên cho Nhật Liên Tông tại vùng nầy vào năm 1321. Và đến năm 1334, giáo đoàn Pháp Hoa Tông được triều đình chính thức công nhận là giáo đoàn thực thụ.

Bên cạnh đó, Nhật Trì thì có ý đồ táo bạo hơn là truyền giáo ra nước ngoài. Tỷ dụ như các địa phương ven biển Thát Đát (韃靼, tên gọi của một bộ tộc tên Tháp Tháp Nhi [塔塔兒], về sau trở thành tiếng xưng hô của toàn thể bộ tộc Mông Cổ), rồi ngay cả vùng Mãn Châu Trung Quốc cũng có dấu chân truyền bá của sư.

Với tinh thần của Nhật Liên để lại, các môn đệ của sư đã nổ lực đi giáo hóa khắp nơi trong nước, cho nên chỉ trong vòng 50 năm sau khi sư qua đời, khắp toàn quốc đã có mặt giáo lý của sư.

2- Sự thọ nạn

Hầu như tông phái nào lúc ban đầu mới khai giáo đều cũng phải chịu chung một số phận là bị đàn áp, khủng bố và bức hại từ nhiều phía của chính quyền cũng như các tông phái có mặt từ lâu.

Dưới thời Nhật Liên, sự đàn áp khá mãnh liệt và sau khi sư qua đời, các môn đệ sư cũng không ngoại lệ như vậy. Tuy nhiên, do sự truyền đạo mạnh mẽ và tinh thần bất khuất của họ, họ đã chiếm được cảm tình của khá nhiều người kể cả hàng quan lại cũng như dân thường, và sau khi được công nhận là tông phái chính thức, họ đã có thế lực vững chắc cho mình, vì vậy sự áp bức cũng có phần giảm nhẹ đi hơn trước.

Bên cạnh sứ mạng giáo hóa, môn đệ của Nhật Liên vẫn luôn thực hiện công việc do thầy thường làm trong lúc sinh tiền là dâng những lời can gián lên chính quyền trung ương cũng như địa phương.

Tỷ dụ như trường hợp điển hình Nhật Nhân (日仁) và Nhật Thân (日身). Hai người nầy đã dâng lời can gián lên Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿, Ashikaga Yoshimitsu, 1358-1408), nên bị chính quyền Mạc Phủ cưỡng bức mãnh liệt. Tuy nhiên, Nhật Nhân vẫn ý khí ngang nhiên mà tuyên bố rằng:

“Tỷ như người võ sĩ khi ra trận mà bị kẻ địch bao vây thì chỉ có chết mà thôi, liệu xin tha mạng để sống trở về chăng ?”

Vì thế sư chấp nhận mọi hình phạt tra tấn. Đến thời Nhật Thân thì tình trạng đàn áp lại càng mãnh liệt hơn. Am thất của sư bị đốt phá tan tành, rồi bản thân sư thì bị bắt tống giam vào ngục thất 503 ngày. Chính trong thời gian nầy, đêm lạnh thì sư bị đem ngâm vào nước lạnh, trời nóng thì bị dầm trong nước nóng, lưỡi thì bị xẻ ra đem đốt cháy và đầu thì cho đội cái nồi, cho nên người đời thường gọi ông là “Nhật Thân Đội Nồi”.

Bên cạnh đó, sự bức hại về phía tăng binh của Tỷ Duệ Sơn cũng là hiểm họa lớn đối với Nhật Liên Tông. Vào khoảng đầu thời đại Thất Đinh, nhóm tăng binh nầy nhắm mục tiêu bức hại chủ yếu là Thiền Tông; nhưng khi giáo đoàn Nhật Liên Tông được hình thành trong thế lực xã hội mới, thì mục tiêu ấy lại chuyển hướng sang giáo đoàn nầy.

Tỷ dụ như vào năm 1387, đồ chúng Tỷ Duệ Sơn bắt đầu tấn công, đập phá và đốt cháy Diệu Hiển Tự trên kinh đô và cường độ bức hại càng lúc càng lên cao. Cuối cùng bản năng tự vệ đề kháng đã thôi thúc giáo đoàn Pháp Hoa Tông buộc phải võ trang hóa. Họ đã tổ chức thành các Đội Tự Vệ được võ trang bằng gươm giáo, vừa để tự vệ và phản công lại các phái đối lập.

Sự kháng tranh xảy ra khốc liệt nhất giữa giáo đoàn Nhật Liên Tông và tăng binh Tỷ Duệ Sơn đã tạo nên vụ pháp nạn Thiên Văn (天文). Vào năm 1536(Thiên Văn 5, dưới thời Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Tình [足利義晴]), nhân việc tín đồ Pháp Hoa chê bai chư tăng trên Duệ Sơn thuyết pháp dở, đã tạo thành động cơ cho vụ pháp nạn xảy ra. Lớp tăng binh trên Duệ Sơn đã ùn ùn kéo đến đốt cháy rụi tất cả các tự viện của Pháp Hoa Tông trong khu vực Kyoto. Khi ấy, tín đồ và tăng chúng có chống trả lại, nhưng vì chúng ít mà quân địch đông, nên kết cuộc 21 ngôi chùa bị tiêu tan, và khoảng 58.000 giáo đồ đã chết trong trận chiến, số còn lại không bao nhiêu thì bỏ chạy tứ tán.

3- Phái Không Nhận Không Cho

Người sáng lập ra Phái nầy là Nhật Áo (日奥, Nichiō) ở Diệu Hiển Tự (妙顯寺, Myōken-ji). Không Nhận có nghĩa là không thọ nhận sự cúng dường của những người mà chưa tin vào Pháp Hoa, Không Cho có nghĩa là không cúng dường cho những vị tăng của các tông phái khác mà khinh báng Nhật Liên Tông. Sự việc nầy xảy ra nhân cuộc lễ cúng dường ngàn vị tăng của tướng quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) tổ chức tại Phương Quảng Tự (方廣寺, Hōkō-ji) trên kinh đô Kyoto. Nhật Áo giữ vững lập trường không thọ nhận của mình, nên không đến tham dự, còn các nhóm khác của Nhật Liên Tông cũng đến dự.

Vào năm 1599, Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) cho tổ chức cuộc đối luận của phái Thọ Nhận và Không Thọ Nhận tại thành Osaka, và ngay chính nơi đây, Nhật Áo đã bị xử tội cho ngựa kéo phanh thây. Chính từ tiền lệ nầy, về sau rất nhiều cuộc tranh luận đã xảy ra trong nội bộ Nhật Liên Tông, và phần lớn Phái Không Nhận Không Cho đã phải chịu thất bại chua cay. Như vậy ngay chính trong nội bộ của Nhật Liên Tông đã phân phái mãnh liệt thành hai phe Đông Tây như trường hợp Đông và Tây Bổn Nguyện Tự của Chơn Tông.

Theo như thống kê của Bộ Văn Hóa Nhật cho biết, hiện tại Nhật Liên Tông có:

– Nhật Liên Tông (日蓮宗): 5238 ngôi chùa.

– Nhật Liên Chánh Tông (日蓮正宗): 710 ngôi chùa.

– Hiển Bổn Pháp Hoa Tông (顯本法華宗): 221 ngôi chùa.

– Pháp Hoa Tông (Dòng Bổn Môn): 519 ngôi chùa.

– Pháp Hoa Tông (Dòng Trận Môn): 178 ngôi chùa.

– Pháp Hoa Tông (Dòng Chơn Môn): 164 ngôi chùa.

– Bổn Môn Pháp Hoa Tông (本門法華宗): 95 ngôi chùa.

– Nhật Liên Tông Bất Thọ Bất Thí Phái (日蓮宗不受不施派): 20 ngôi chùa.

– Nhật Liên Bổn Tông (日蓮本宗): 51 ngôi chùa.

– Bổn Môn Phật Lập Tông (本門佛立宗): 336 ngôi chùa.

(Nguồn: www.bodephatquoc.org (Viện Phật học Bồ đề Phật quốc)


Các bài viết khác

Vài nét về sự du nhập Phật giáo vào Afghanistan

Vài nét về sự du nhập Phật giáo vào Afghanistan

Trong các tài liệu sử ghi lại, vương quốc của Milinda gồm vùng thung lũng Kabul (thủ đô của Afghanistan ngày nay), Peshawar, Punjab, Sindh, Pradesh, đây có thể nói là một vùng rộng lớn thuộc Tây Ấn Ðộ và Pakistan hiện nay. Ngoài cuộc vấn đáp đạo lý nổi tiếng giữa nhà vua và Na Tiên Tỳ kheo, nhà vua còn cho xây dựng một tu viện...

Đặc điểm các tông phái Phật giáo Nhật Bản

Đặc điểm các tông phái Phật giáo Nhật Bản

Chân ngôn chính là cái thể hiện chân lý tuyệt đối của vũ trụ, là lời dạy của đức Đại Nhật Như Lai, là giáo thuyết Tức Thân Thành Phật (thành Phật ngay nơi thân nầy). Chân Ngôn Tông cho rằng ngay trong đời hiện tại có thể thành Phật. Hằng ngày sáng tối siêng năng chỉnh trang bàn thờ Phật...

Giáo dục Phật giáo tại Âu – Mỹ

Giáo dục Phật giáo tại Âu – Mỹ

Phương pháp giáo dục Phật giáo thứ hai là cùng với chúng bạn học chung qua các trường tiểu học, trung học, đại học có ban giảng huấn là các thầy, các cô để khẳng định sự tiến bộ của học sinh, sinh viên. Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã trải qua giai đoạn này khi ngài từ giã hai bậc đạo sư để cùng thực hành...

Công trình giáo dục của Phật giáo tại Mỹ

Công trình giáo dục của Phật giáo tại Mỹ

Đạo phật đã có một bề dày 26 thế kỷ của công trình giáo dục, tạo thành mảng văn hóa lớn cống hiến cho xã hội loài người từ quá khứ đến hiện tại. Nền tảng giáo dục của đạo Phật xưa cũng rất xưa, nhưng mới cũng rất mới do đặc tính khai phóng, nhân văn, lòng thương yêu và tự do...

Cuộc đời đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni Buddha)

Cuộc đời đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni Buddha)

Sau khi thành tựu giác ngộ, Đức Phật đã ngần ngại về việc chỉ dạy cho người khác phương cách để đạt được những thành tựu như thế. Ngài cảm thấy rằng sẽ không có ai hiểu được điều này. Tuy nhiên, các vị trời Phạm Thiên (Brahma, Tshang-pa) và Đế Thích (Indra, dBang-po) đã khẩn nài xin Ngài chỉ dạy cho...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Cố trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Quốc sư Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh - Viện chủ chùa Tân Tân, An Nhơn, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu - Trụ trì Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • Thầy Thích Huyền Châu - Viện chủ Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978)
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973)
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978)
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897 - 11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT.  Thích Tịnh Khiết (1890 - 1973) - Cố Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Phước Thành (1918 - 2013), Trưởng lão Tăng già Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878 - 1979) - Cố Đệ Nhị Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927 - 2005) - Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904 - 1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định đương vi trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Cao tăng miền Bắc Việt Nam
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992) - Cố đệ tam Tăng thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008) - Cố Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Kế Châu (1922 - 1996) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp Di Đà, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982) - Đệ nhất trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Câu chuyện ẩn dụ về bốn bà vợ

Câu chuyện ẩn dụ về bốn bà vợ

Từ trên đỉnh cao của danh vọng và quyền thế, ông quên hẳn mặt trái của xã hội, cái mặt dàn trải đầy dẫy những hoàn cảnh khổ đau đói khát, cơm không có mà ăn, co ro trong manh áo rách cho qua đêm Đông rét mướt...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

573428