Trang chính » Chuyên mục » Ký sự »

Những thánh địa Phật giáo tại Ấn Ðộ

Tác giả : Thích nữ Minh Tâm

ảnh minh họa

Lời giới thiệu:

Thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên là thế kỷ hoàng kim của các tôn giáo Á Ðông.  Những biến cố mang tính cách lịch sử vĩ đại đã lần lượt xảy ra tại các nước Ðông Phương: Khổng Tử và Lão Tử tại Trung Hoa, Zoroaster tại Iran (Ba Tư), Mahavira và Ðức Phật Thích Ca tại Ấn Ðộ.

Trong vùng lốc xoáy tôn giáo đó, đaọ Phật do Ðức Thích Ca sáng lập, đã đứng vững và tiếp tục lớn mạnh như một ngọn đuốc sáng để đáp ứng nhu cầu tâm linh của loài người.  Ðaọ Phật đã đem đến cho con người một đời sống tâm linh hoàn hảo.  Lẽ dĩ nhiên, đaọ Phật cũng không thoát ra ngoài qui luật chung của vũ trụ “thành, trụ, hoại, không,”và cũng đã trãi qua không biết bao nhiêu biến cố thăng trầm của lịch sử các dân tộc và tôn giáo; nhưng đạo Phật vẫn tồn tại và còn tồn tại mãi trong dòng sinh mệnh của các đất nước đạo Phật đã đi qua và để lại dấu ấn.

Nói đến đạo Phật, thiết tưởng chúng ta phải nhắc đến vị giáo chủ đã sáng lập ra tôn giáo đó.

Vào thế kỷ thứ 6, năm 566 trước Công Nguyên, tại thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatsu) của một tiểu vương quốc tại Ấn Ðộ, Thái tử Tất Ðạt Ða (Siddhartha) đã giáng sanh trong sự chờ đón trọng thể huy hoàng của hoàng gia và dân chúng.  Thái tử là con của đức vua Tịnh Phạn (Sudhodana) và hoàng hậu Ma Gia (Mayadevi).  Thái tử ra đời tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini), gần sát biên giới Nepal và Ấn Ðộ.

Một đạo sĩ đã tiên đoán rằng “Thái tử, hoặc sẽ trở thành một đaị vương cai trị tứ châu thiên hạ, hoặc sẽ xuất gia tu hành đắc quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.”  Vua cha nghe vậy, vội tìm đủ mọi cách ngăn chận.  Nhưng những phương cách đó đều vô hiệu, ngay cả người vợ tài sắc của Thái tử là công nương Da Du Ðà La (Yasodhara) và đưá con mới chào đời La Hầu La (Rahula) cũng không thể dẹp tan được ý nghĩ thoát ly mọi ràng buộc thế tục của Thái tử.  Thái tử đã nhìn thấy được cảnh sanh, lão, bệnh, tử của con người, đã hiểu rõ sự vô thường thay đổi của vạn hữu hàm linh và Thái tử muốn đi tìm phương pháp giải thoát khổ đau cho chính mình và nhân loại.  Không lâu sau đó, Thái tử đã thoát ly hoàng cung, rời xa mái ấm gia đình, dấn thân vào cát bụi.

Sau 11 năm tầm sư học đaọ, khổ hạnh đủ mùi, tham bái cầu đạo với nhiều danh sư, Bồ Tát Tất Ðạt Ða vẫn không thấy thoả mãn.  Ngài nhận thấy phương cách tu tập, lý thuyết của các đạo sư vẫn tiêu cực bế tắc.  Ngài liền bỏ lối tu tập đó và một mình một bóng đến ngồi tham thiền bên bờ sông Ni Liên Thiền (Uruvila).  Qua 49 ngày đêm nhập định, Bồ Tát Tất Ðạt Ða hoát nhiên đại ngộ, chứng thành quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, tôn hiệu là Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.   Sau khi chứng đắc chân lý, Ðức Phật đã đến gặp năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển.  Bài thuyết pháp đầu tiên của Ðức Phật nói về pháp Tứ Ðế được gọi là Chuyển Pháp Luân (Dhamma – Chakrapravartana).  Giáo lý Tứ Ðế (Khổ, Tập, Diệt, Ðạo) xuyên suốt Bát Thánh Ðạo hay Bát Chánh Ðạo (Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Ðịnh, Chánh Niệm) đã hướng dẫn bao nhiêu người giải thoát từ dòng sông đau khổ đến bến bờ cực lạc hạnh phúc.

Suốt 45 năm, Ðức Phật và hàng đại đệ tử của Ngài đã đi khắp lãnh thổ Ấn Ðộ, từ bờ sông Hằng đến những làng quê hẻo lánh, cốt yếu để truyền bá chánh pháp giải thoát lầm mê cho chúng sanh.  Ánh sáng đạo Phật truyền đến đâu thì bóng tối vô minh tan đến đó.  Hàng triệu triệu người đã tìm thấy hạnh phúc và giải thoát.  Ðức Phật nhập diệt tại thành Câu Thi Na (Kusinagara) năm 486 trước Công Nguyên.  Năm ấy, Ngài được 80 tuổi.

Ðạo Phật đã phát triển rực rỡ tại Ấn Ðộ, nhất là tại thành Câu Xá La (Kosala) và Ma Kiệt Ðà (Magadha) còn được gọi là trung tâm Phật Giáo.  Nhưng sau khi Ðức Phật nhập diệt khoảng 200 năm, đạo Phật cũng theo những biến cố lịch sử mà có nhiều  thăng trầm thay đổi.  Trong những biến cố lịch sử đó, trận chiến thảm khốc với quân Kalinga của vua A Dục (Asoka) là bước ngoặt nổi tiếng trong lịch sử Phật Giáo Ấn Ðộ.

Vua A Dục đã rùng mình tỉnh giấc mộng đế vương khi nhìn xác người ngựa đẫm máu nằm chết la liệt ở chiến trường.  Hình ảnh đẫm máu đó đã khích động mãnh liệt lòng vị vua bạo tàn đó, khiến ông ta hối hận đã gây ra cảnh tương tàn hủy diệt sanh linh.  Từ đó, A Dục Vương đã chuyển hoá tâm hồn, tìm hiểu đạo Phật và qua giáo lý, A Dục Vương đã thuần hoá từ từ trở thành một vị vua nhân đức nhất của lịch sử Ấn Ðộ.

Những thánh tích Phật Giáo còn sót lại trên lãnh thổ Ấn Ðộ đều có dấu ấn trùng tu lại của vua A Dục; nhờ thế mà ngày nay chúng ta có thể học và hiểu rõ thêm về những di tích lịch sử Phật Giáo qua những bia ký và thánh địa. 

Thánh địa thứ nhất:

Lâm Tỳ Ni (Lumbini)

Lâm Tỳ Ni (Lumbini), nơi Ðức Phật giáng sanh, là một thánh địa ở vùng Rummindei, cách một dặm về phía Bắc vùng Paderia và hai dặm phía Bắc vùng Bhagwanpur nước Nepal.  Ngày nay các nhà khảo cổ xác định Lâm Tỳ Ni nằm về phía Bắc quận Basti của xứ Uttar Pradesh.

Theo tài liệu sử Phật Giáo, Lâm Tỳ Ni tọa lạc cách thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) 12 dặm.  Sử chép rằng, “Theo tục lệ, Hoàng Hậu Ma Gia phải trở về quê mẹ để sanh nở.  Khi đến động hoa Lâm Tỳ Ni, bà cảm thấy trong người sảng khoái lạ thường.  Cảnh vật xinh đẹp tươi mát chào đón, chim muông hót ríu rít trên cây, gió hiu hiu thổi làm tâm hồn người dịu êm nhẹ nhàng, Hoàng Hậu thong thả dạo bước ngắm nhìn thưởng thức cảnh trí thiên nhiên.

Khi đến tàng cây Sa La, Hoàng Hậu dơ tay vịn cành hoa sà thấp trước mặt và kỳ lạ thay, Thái tử giáng trần trong tư thế đứng của người mẹ.  Chư Thiên tung hoa chào đón, bẩy con rồng phun nước thơm  tắm rửa Thái tử và Thái tử đi 7 bước dõng dạc tuyên bố rằng: “Ta là đấng Vô Thượng Ðạo Sư của Trời Người.”  (Thiên thượng thiên hạ, duy Ngã độc tôn).  Từ vườn Lâm Tỳ Ni, Thái tử được các cung nô hầu hạ trở về thành Ca Tỳ La Vệ.

Quang cảnh giáng sanh của Thái tử Tất Ðạt Ða là đề tài cho hàng ngàn tác phẩm nghệ thuật Ấn mà ngày nay người ta đã tìm thấy trong điêu khắc và tranh vẽ.

Nhận dạng được địa danh của Lâm Tỳ Ni, thiết tưởng chúng ta phải nhớ đến công ơn của vua A Dục.  Hai mươi năm sau ngày đăng quang lên ngôi hoàng đế, Vua A Dục đã đích thân đi chiêm bái đãnh lễ các thánh địa và chính Vua đã sai người đúc một cột trụ khắc lên dòng chữ “Ðịa danh này là nơi Ðức Phật giáng sanh.”  Vua A Dục cũng đã giảm 5% thuế hằng năm cho dân chúng vùng này.  Ðó là một đặc ân của vua A Dục đối với dân cư địa phương nơi Ðức Phật giáng sanh.  Bên cạnh cột trụ này, người ta còn thấy một ngôi đền xưa cũ khắc chạm hình ảnh quang cảnh giáng sanh của Ðức Phật.

Lâm Tỳ Ni đã trở thành một thánh địa quan trọng hàng đầu đối với người Phật tử.  Ngàn năm trước, những du tăng Trung Quốc đều lần lượt viếng thăm Lâm Tỳ Ni.  Chung quanh cột trụ do vua A Dục sai đúc, các vị du tăng cũng đã tự đắp lấy những bia đá lớn nhỏ đánh dấu những cuộc viếng thăm cúng dường.  Về sau, chính phủ Nepal ra lệnh khai quật vùng này để tìm thêm tài liệu chứng cứ.  

Thánh địa thứ hai:

Bồ Ðề Ðạo Tràng  (Bodh-Gaya)

Thánh địa nổi tiếng thứ hai trong lịch sử Phật Giáo là Bồ Ðề Ðạo tràng, nơi Ðức Phật thành đạo.  Nơi đây Ðức Phật đã tọa thiền suốt 49 ngày đêm dưới tàng cây pipala, bên cạnh dòng sông Ni Liên Thiền.  Vì hiện tượng bất diệt đó, địa danh này đã trở thành Bồ Ðề Ðạo Tràng, và cây cổ thụ pipala được đặt tên là cây Bồ Ðề (có nghĩa là “giác ngộ, bodhi tree”).

Có thể nói, Bồ Ðề Ðạo Tràng đã trở thành một cái nôi của lịch sử văn hoá Phật Giáo và các đệ tử Phật đều ao ước được ít nhất một lần đến chiêm bái nơi này.  Tòa cỏ Ðức Phật ngồi thiền, cây Bồ Ðề đều được chăm sóc kỹ lưỡng.  Những bia tháp và những cột đá lớn nhỏ chung quanh Bồ Ðề Ðạo Tràng, do các du tăng Ấn Ðộ, Trung Quốc và các nước khác tự đắp lấy cúng dường khi đến chiêm bái thánh địa này, và tài liệu ghi chép của ngài Tam Tạng Huyền Trang, đã cho chúng ta hình dung ra được quang cảnh sầm uất rực rỡ của địa danh này trong quá khứ hơn 2500 năm trước.  Cây Bồ Ðề bây giờ là cây cháu cây chắt của hàng ngàn cây Bồ Ðề gốc, nhưng cành lá vẫn xum xuê, thân cây to lớn rắn chắc.

Chính ngài Alexander Cunningham và một số các nhà bác học khác là những người đầu tiên khai quật những bia ký và cột trụ tại Bồ Ðề Ðạo Tràng này.  Ðại tháp Bồ Ðề đã được trùng tu lại nhiều lần với một kinh phí rất to lớn.  Vua A Dục cũng đã xây dựng một ngôi đền tại thánh địa này.  Ngôi đền do vua A Dục xây đã được miêu tả nhiều trong nghệ thuật Ấn; tuy nhiên di tích của ngôi đền này đã không còn tìm thấy dấu vết nữa.

Ngôi đại tháp Bồ Ðề chúng ta thấy hiện nay là ngôi tháp mới được trùng tu lại sau này.  Theo sự miêu tả của ngài Tam Tạng Huyền Trang thì đại tháp Bồ Ðề đã được xây dựng từ thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên theo mô hình của một đại bảo tháp tại Miến Ðiện (Burma).

Hiện nay, ngôi đại bảo tháp tại Bồ Ðề Ðạo Tràng cao gần 160 bộ và xây theo hình tứ giác. Trên đỉnh là một ngọn tháp nhọn.  Trong tháp, người ta khắc chạm hình tượng Ðức Phật thành đạo.  Phiá Bắc của ngôi tháp là một con đường hẹp cách mặt đất 4 bộ.  Người ta miêu tả đó là con đường nhỏ mà Ðức Phật, sau khi thành đạo, đã đi thiền hành qua lại trên con đường này.  Ngoài ra, lại còn có nhiều hình hoa sen được chạm trỗ trên con đường đó vì người ta tin rằng mỗi bước chân Ðức Phật đi đều có hoa sen nở tung ra đến đó.  Người ta còn thấy một mảng đá cát đỏ cạnh cây Bồ Ðề, tượng trưng cho đệm cỏ mà hơn 2540 năm trước, Ðức Phật đã ngồi và chứng đạo.  Còn rất nhiều những kiến trúc chạm trỗ khác khắc ghi lại hình ảnh của Ðức Phật và các đại đệ tử, các Phạm Thiên.  Những kiến trúc thẩm mỹ đó đã hấp dẫn hàng triệu người đến chiêm bái Bồ Ðề Ðạo Tràng mỗi năm càng ngày càng đông, tạo nên một luồng sóng du lịch khổng lồ về quê Ðức Phật giúp cho nền tài chánh quốc phòng Ấn thêm một phần lợi tức đáng kể.

Thánh Ðịa thứ ba:

Sarnath

Một thánh địa đáng ghi nhớ nữa trong lịch sử Phật Giáo là thánh địa Isipitana hay Sarnath.  Nơi đây, trong sự tĩnh lặng của vườn Lộc Uyển, Ðức Phật đã khai giảng bài pháp đầu tiên cho 5 anh em ông Kiều Trần Như trước kia cùng tu khổ hạnh với Ngài.  Nội dung bài thuyết pháp nói về những khổ đau của kiếp người và những phương cách giải hóa những thống khổ đó.  Sự kiện này đã được mệnh danh là “Chuyển Pháp Luân,” có nghĩa là Ðức Phật chuyển bánh xe pháp đầu tiên đánh dấu một kỷ nguyên huy hòang rực rỡ của một tôn giáo kéo dài bền vững trên 2500 năm cho đến nay.

Sarnath là nơi xuất phát tôn giáo do Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập.  Vì thế, Sarnath đã trở thành trung tâm Phật giáo lớn nhất tồn tại trên 1500 năm.  Trong những thế kỷ đầu tiên của thời kỳ Phật giáo hưng thịnh, dưới triều đại vua A Dục, Sarnath đã trở thành một nơi tranh luận nổi tiếng giữa các tông phái và đạo giáo.  Hai ngài Pháp Hiền và Trần Huyền Trang đã đến chiêm bái thánh tích này vào thế kỷ thứ 5 và thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên.  Hai ngài đã để lại cho chúng ta nhiều tài liệu giá trị về lịch sử thánh địa này.  Nơi đây, vua A Dục cũng đã sai người xây dựng một cột trụ đánh dấu khu vực ẩn cư trong nhiều tòa nhà lớn nhỏ khác nhau của hơn 1500 vị tăng sĩ Phật giáo đến Sarnath.  Trong những di tích còn sót lại đó, người ta phải nhắc đến một ngôi đền tuyệt mỹ có tượng Phật bằng đồng trong hình tướng chuyển Pháp luân, một ngôi cổ tháp và một cột trụ bằng đá.  Tất cả đều do vua A Dục xây dựng.  Thánh địa này đã phát triển rực rỡ trong nhiều triều đại và cũng đã được trùng tu lại nhiều lần.  Theo bia ký và những chứng cứ khảo cổ, người ta biết rằng ngôi đền có tượng Ðức Phật Chuyển Pháp Luân đã được trùng tu lại theo lệnh của hòang hậu Kumaradevi vào phân nửa đầu thế kỷ thứ 12 trước Công nguyên.  Chẳng bao lâu sau, địa danh này bị quân đội của Muhammad Ghori, của đạo quân Huns và Mahmud Ghazni phá hủy hòan tòan, nhưng Sarnath lại được trùng tu do công sức của các tín đồ Tăng Ni Phật giáo khắp nơi.  Tuy nhiên về sau, vì đạo Phật đã suy tàn tại Ấn Ðộ, Sarnath, một địa danh lịch sử nổi tiếng và huy hòang một thời đã bị tiêu hủy mất dấu trong đổ nát hoang tàn của cát bụi thời gian.Ngày nay, viện khảo cổ Ấn đã tổn phí sức lực và tài chánh thật nhiều trong công cuộc khai quật và trùng tu lại thánh địa Sarnath.  Khi chúng ta đến Sarnath từ hướng Varanasi, chúng ta sẽ thấy một mặt phẳng bát giác bằng gạch nung nhô lên khỏi mặt đất.  Mặt phẳng này là di tích còn sót lại của một ngôi tháp trước kia đánh dấu nơi Ðức Phật đến gặp 5 anh em ông Kiều Trần Như.  Ngôi tháp bát giác này được trùng tu lần sau cùng bởi tiểu vương Akbar năm 1588, thuộc triều đại Gupta.

Trong số những di tích tàn rụi còn sót lại không bị các đạo quân tàn phá là ngôi tháp Dhamekh cao hơn mặt đất 150 bộ.  Ngôi tháp này được xây cất bằng nguyên liệu bền cứng, những khối đá khổng lồ bằng gạch và mang hình dáng cột trụ.  Những hình tượng khắc trên mặt tháp cho chúng ta biết ngôi tháp Dhamekh được xây vào triều đại Gupta thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên.  Danh từ “Dhamekh” phát xuất từ nguyên từ Phạn ngữ “Dharmekh – chánh pháp”.  Cách ngôi tháp này không xa về hướng Tây là một ngôi tháp nhỏ do vua A Dục xây cất.  Tháp vua A Dục xây, theo lời miêu tả của ngài Trần Huyền Trang, có thể là nơi Ðức Phật tọa thiền thuyết pháp cho 5 anh em Kiều Trần Như.  Xa hơn một tí về phía Bắc, là một côt trụ hình đầu sư tử được khắc chạm rất công phu.  Cột trụ sư tử này hiện nay được trưng bày tại viện bảo tàng khảo cổ gần đó.  Tại ngôi tháp này, chúng ta còn thấy sót lại những mảnh đá lớn của nền nhà chánh điện và những cột lớn nhỏ của một cổng chính dẫn lối vào chánh điện ngôi tháp.  Ngòai ra, chúng ta còn thấy rất nhiều mãnh vỡ của các tượng Phật và Bồ tát mang dấu ấn điêu khắc của nhiều triều đại khác nhau.  Một bức tượng Phật đẹp nhất tạc bằng đá cát khắc hình Ðức Phật Chuyển Pháp Luân là bức tượng tuyệt mỹ mang dấu nghệ thuật điêu khắc triều đại Gupta.

Tất cả những bức tượng điêu khắc vào thời đại này đều khắc theo tám biến cố lịch sử của cuộc đời Ðức Phật như Ðức Phật giáng sanh, thành đạo, chuyển Pháp luân, nhập Niết bàn, thi triển thần thông, v.v.  Ðáng kể nữa là một bức tàn lọng bằng đá khắc trọn vẹn bài pháp Tứ Ðế bằng tiếng cổ Pàli.

Dù đã bị tàn phá nhiều theo thời gian, Sarnath vẫn còn hấp dẫn du khách tìm về Ấn Ðộ để tưởng nhớ lại hình ảnh Ðức Từ Phụ và giáo âm của Ngài vẫn vang vọng bất diệt trong lòng người con Phật.

Thánh địa thứ tư:

Kusinagara

Kusinagara hay Kusinara (Câu Thi na) là nơi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thâu thần tịch diệt năm Ngài 80 tuổi dưới hai tàng cây Sa La.  Ðịa danh này sau được các nhà khảo cổ nhận dạng là Kasia ở quận Deoria của xứ Utta Pradesh.

Giống như các thánh địa khác liên quan đến những biến cố lịch sử đời Ðức Phật, Kusinagara đã trở thành một thánh địa quan trọng để các Phật tử đến chiêm bái đãnh lễ.

Vào thời điểm đó, hàng ngàn tự viện và bảo tháp đã được xây dựng lên chung quanh thánh địa này.  Tuy nhiên, không rõ vì lý do gì, có thể bị đạo quân Hồi giáo phá hủy hay do thời gian phai tàn xóa dấu mà thánh địa này đã bị hoang phế tàn rụi.  Hai ngài Pháp Hiền và Huyền Trang, khi đến chiêm bái thánh địa này, cũng phải thốt lên lời ta thán bi thiết khi nhìn cảnh vật hoang liêu đổ nát của Kusinagara.

Qua những cuộc khai quật để tìm lại dấu vết, người ta đào được một số những mảnh vỡ vụn của các tượng Phật, những cột trụ loang lỗ.  Tuy nhiên, căn cứ trên những dấu hiệu của các di tích còn sót lại đó và những bia ký thì chắc chắn nơi đây là thánh địa nhập Niết bàn của Ðức Phật.  Ngôi tháp Ðại Bát Niết Bàn mà vua A Dục xây cất cũng không có thể tìm thấy được nữa và có thể ngôi tháp này đã bị chôn vùi dưới nền tinh xá Niết bàn xây dựng ở triều đại Gupta.

Trong số những di tích đó, người ta tìm được một bức tượng Ðức Phật trong tư thế nhập Niết bàn.  Bức tượng này cũng bị vỡ vụn và đã được nhà điêu khắc Carlleyle khéo léo hàn gắn chạm trỗ lại.  Ngôi đại bảo tháp Ramabhar được dựng ngay tại địa điểm làm lễ trà tỳ kim thân Ðức Phật và xá lợi Ngài được phân chia ra làm tám phần đồng nhau cho tám vương quốc lớn mạnh nhất thời đó.

Hiện nay các nhà khảo cổ vẫn còn tiếp tục công cuộc khai quật thánh địa Kusinagara, mong sẽ tìm thêm tài liệu chứng cứ hơn nữa để làm sáng tỏ thêm một địa danh linh thiêng đã được đón nhận kim thân Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Thánh địa thứ năm:

Sravasti 

Sravasti, thủ phủ của vương quốc Kosala ngày xưa, được các Phật tử tôn sùng vì nơi đây hơn 2540 năm trước, Ðức Phật đã thi triển thần thông giáo hóa các đạo sư thờ thần lửa.

Theo các sử liệu ghi chép lại, Ðức Phật đã thi triển các phép lạ như trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, trên thân ra lửa, dưới thân ra nước, hay mặt trời mặt trăng chiếu sáng cùng một lúc trên bầu trời, và nhiều hóa thân của Ðức Phật.  Những phép lạ đó đã là đề tài cho nhiều tác phẩm nghệ thuật Ấn từ các thời đại cổ xưa cho đến nay.

Ngay trong thời Ðức Phật, Sravasti đã là một trung tâm Phật giáo sầm uất phồn thịnh.  Chính nơi đây, trưởng giả Cấp Cô Ðộc đã rãi vàng mua hết đất vườn hoa của Thái Tử Kỳ Ðà để xây dựng tinh xá cúng dường Ðức Phật và chư tăng.  Câu chuyện rãi vàng mua đất của ông Cấp Cô Ðộc đã khích động mãnh liệt đến các tầng lớp quí tộc vua chúa, khanh hầu, trưởng giả và đó cũng là đầu đề về lòng sùng bái tuyệt đối của ông Cấp Cô Ðộc cũng như các tác phẩm nghệ thuật Ấn sau này.  Càng về sau, nhiều tinh xá, bảo tháp xây cất rải rác chung quanh địa danh này khiến Sravasti thêm nổi tiếng và phồn vinh.

Các nhà khảo cổ tin rằng Sravasti thuộc địa phương Saheth – Maheth nằm sát biên giới quận Gonda và Bahraich của xứ Utta – Pradesh.  Nơi đây họ đã tìm thấy vài bia ký liên quan đến tinh xá Kỳ Viên ở Sravasti.

Ðịa danh Saheth – Maheth gồm có hai vùng riêng biệt.  Vùng lớn nhất, Maheth, rộng 400 mẫu, ngày xưa là một tỉnh lỵ trù phú.  Saheth thì chỉ rộng có 32 mẫu, nằm độ �  dặm phía Tây Nam của Kỳ Viên tinh xá.  Những cuộc khai quật tại vùng Maheth đã cho chúng ta biết được rằng xưa kia Maheth là một thành phố rất giàu có đông đúc.  Saheth, tuy nhỏ hơn, nhưng lại nổi tiếng hơn vì nơi đây Ðức Phật đã dừng chân để giáo hóa và còn sót lại nhiều nền nhà của tinh xá, tự viện, bảo tháp; cho nên đa số các tăng sĩ, du khách đều ghé tới Saheth để chiêm bái tham quan.

Những di tích trưng bày đó mang dấu hiệu thời đại Mauryan cho đến những năm đạo Phật bắt đầu suy tàn tại Ấn Ðộ thế kỷ thứ 12 sau Công nguyên.  Tại đây, người ta thấy một ngôi tháp cổ nhất được xây cất từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, chứa đựng xá lợi Phật và một tượng đầu Ðức Phật tạc ở thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên thuộc triều đại Bala.  Tượng đầu Ðức Phật này giờ được trưng bày tại bảo tàng Ấn Ðộ ở Calcutta.  Hòang hậu Kumaradevi, vợ vua Govinda – Chandra là người cuối cùng bảo trợ tài chánh kinh phí xây dựng trùng tu lại Kỳ Viên tinh xá năm 1128 -29.

Ðạo Phật bây giờ đã suy tàn nhiều tại Ấn Ðộ và địa danh Sravasti, một thời nổi tiếng huy hòang trong lịch sử Phật giáo Ấn, đã bị gót giầy đạo quân Hồi giáo tàn phá thiêu hủy thành bình địa.

Thánh địa thứ sáu:

Sankasya

Một địa danh thiêng liêng khác có liên quan đến cuộc đời Ðức Phật là Sankasya, nơi Ðức Phật thi triển thần thông lên cung trời Ðao Lợi thứ 33 thuyết pháp giáo hóa thân mẫu của Ngài là Hòang hậu Ma Gia và chư Thiên.  Ðức Phật đã giảng A Tỳ Ðạt Ma Luận trên cung trời Phạm Thiên.  Sự kiện này đã xảy ra sau khi Ðức Phật thi thố phép lạ ở Sravasti.

Sankasya, còn được gọi là Sankisa hay Sanisa Basantapur, thuộc quận Farrukhabad của Utta Pradesh.  Ðịa phương này được biết xác thực là nhờ vào bia ký của vua A Dục khắc trên tượng một con voi đánh dấu thánh địa này.

Không riêng chỉ có hai ngài Pháp Hiền và Huyền Trang đến chiêm bái thánh địa Sankasya, mà có nhiều tăng sĩ Trung Hoa khác cũng đến viếng thăm thánh địa này – nhưng những tài liệu do họ để lại cũng không còn đầy đủ chứng cứ để xác minh rõ hơn về địa danh này.  Ngôi làng hiện giờ ở thánh địa này nằm trên một ngọn đồi, cao độ 41 bộ và rộng cỡ 1,500 mét vuông.  Cách đó về hướng Nam độ � dặm là một ngôi tháp do hòang hậu Devi ra lệnh xây cất.  Rải rác chung quanh ngọn đồi này là những đống gạch đá vỡ vụn và những di tích sót lại của cổng thành, đòn ngang, xà nhà, v.v. Những tàn tích này không đủ dữ kiện để chúng ta xác định lịch sử của thánh địa Sankasya.

Tượng con voi do vua A Dục sai đúc là di tích quan trọng nhất đánh dấu địa danh Sankasya và những cuộc khai quật trong tương lai hy vọng sẽ đem lại cho chúng ta nhiều điều lý thú hơn về Sankasya.

Thánh địa thứ bẩy:

Rajagriha 

Rajagriha, thủ phủ của vương quốc Ma Kiệt Ðà hùng mạnh, có thể nói rất nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo vì nhiều nguyên do.  Không những Rajagriha là nơi Ðức Phật đã dừng chân lại nhiều lần trong cuộc đời hành đạo của Ngài, mà nơi đây cũng chính là nơi Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta), em họ của Ðức Phật, đã âm mưu nhiều lần để giết Ngài.  Hơn nữa, tại thủ phủ này, ở động Sattapanni trên ngọn đồi Vaibhara, Ðại Hội Kiết tập lần thứ I đã được tổ chức tại đây dưới sự chủ tọa của ngài Ưu Bà Li (Upali) và ngài A Nan (Ananda).  Những điểm chính yếu của giáo lý và giới luật của Phật giáo đều nêu lên trong kỳ Ðại Hội Kiết Tập này.  Vì thế, Rajagriha đã trở thành một địa danh nổi tiếng và quan trọng trong sự thành lập và phát triển Tăng đòan Phật giáo.

Là một thành phố nổi tiếng ngày xưa, Rajagriha bây giờ là một phố thị trong quận Patna của xứ Bihar, bao bọc chung quanh là những ngọn đồi núi chập chùng.  Rajagriha còn được gọi là Vaibhara, Vipula, Ratna, Chatha, Udayagiri và Sonagiri.  Dưới chân ngọn đồi về phía Bắc của phố thị Rajagriha ngày xưa là vương quốc của vua A Xà Thế (Ajatasatru), con vua Bình Sa vương (Bimbisara).  Sau đời vua A Xà Thế, thái tử Udayin kế vị ngai vàng và dời kinh đô Kusumapura đi nơi khác và đời vị vua kế tiếp là Kalasola lại dời kinh đô về Pataliputra, do đó Rajagriha dần dần đã mất đi vai trò quan trọng của nó trong vương quốc.  Tuy nhiên, mặc dù có nhiều biến đổi thăng trầm trong chính trường và tôn giáo, Rajagriha vẫn luôn được nhắc đến trong lịch sử Phật giáo Ấn Ðộ và lịch sử các đạo giáo khác.

Những di tích của thành phố cổ xưa Rajagriha còn sót lại rất ít.  Qua những di tích và bia ký vỡ vụn, các nhà khảo cổ tin rằng thánh địa này đã từng là địa điểm sinh họat của nhiều tôn giáo khác nhau.  Ngay cả động Sattapanni, nơi kiết tập Ðại Hội Phật giáo lần thứ I, cũng mờ dấu vết.  Theo kinh điển và sử liệu, động Sattapanni, nằm về phía Bắc sườn đồi Baibhara và nhà bác học Stein có lý khi ông cho rằng vị trí động đá này tọa lạc phía Bắc trên một mảnh đất rất rộng có nhiều hang động nhỏ.  Một kiến trúc đặc biệt đáng kể, Jarasandha Ki Baithak, trên sườn đồi Vaibhara phía Ðông, có những hầm nhà lớn nhỏ không đồng đều nhau, được mô tả là nơi ẩn cư của Ðức Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa), vị chủ tọa kỳ Ðại Hội Kiết Tập lần thứ I.  Về sau, các hang động này đều là chỗ ở của các đạo sĩ Kỳ Na giáo (Jainism) một thời.

Ngọn núi Gridhrakutta một thời là nơi ẩn cư tu hành của Ðức Phật, nằm gần sát bên thành phố Rajagriha và theo một số dữ kiện lịch sử cũng như các dân địa phương cư ngụ tại vùng này, thì động Sonbhandar phía Ðông đồi Vaibhara có mỏ vàng chưa khai phá tại đây.

Rajagriha, bây giờ là một thắng cảnh hấp dẫn các du khách trong và ngòai nước đến viếng, không những là địa điểm nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo mà còn là một địa danh có nhiều ngọn suối nóng chữa bệnh và an dưỡng.

Thánh địa thứ tám:

Vaisali (Vệ Xá Ly)

Trong thời Phật giáo hưng thịnh, Vaisali, thành phố của vương quốc Lichchhavi hùng cường, là cái nôi của nền văn hóa triết thuyết Phật học.

Ðức Phật đã từng dừng chân du thuyết của Ngài 3 lần nơi thành phố này.  Nơi đây Ðức Phật đã thọ nhận bát mật ong do đàn khỉ dâng cúng và nơi đây cũng là địa phận Ðức Phật tuyên bố 3 tháng nữa Ngài sẽ nhập Vô Dư Niết Bàn.  Hơn nữa, Vaisali cũng là nơi kiết tập Ðại Hội Phật Giáo lần II hơn 100 năm sau ngày Thế Tôn nhập diệt.  Ðối với tín đồ Kỳ Na giáo, Vaisali cũng là một thánh địa vì Ðức Mahavira, vị đạo sư đời thứ 14 của Kỳ Na giáo ra đời.

Vaisali là một thành phố thuộc quận Muzaffarpur của Bihar.  Vào triều đại Gupta, Vaisali là một thủ phủ phồn vinh náo nhiệt.  Khách thương, tàu bè, hải cảng buôn bán tấp nập.  Các cửa tiệm, nhà băng, công sở, mở cửa suốt ngày đêm. Các kho chứa thóc gạo, lụa là, v.v. của hòang cung đều đầy ngập.  Vaisali, thời đó, đã gíup cho triều đại Gupta một thế đứng vững vàng trên vũ đài chính trị cho đến triều đại Mauryan, Vaisali vẫn còn là một thủ đô quan trọng.

Hai ngài Pháp Hiền và Huyền Trang đã đến chiêm bái thánh địa này.  Theo lời của ngài Huyền Trang, Vaisali chỉ rộng cỡ 10, 12 dặm vuông.  Chung quanh Vaisali có vô số những tháp, bia đá không biết cơ man nào mà kể.  Nhưng thời gian đã tàn nhẫn xóa sạch những di tích ấy và chỉ còn sót lại ở khu Kolhua, cách 2 dặm về phía Tây Bắc thành phố Raja Bisal Ka Garh, một trụ đá tạc tượng sư tử cao hơn mặt đất 22 bộ.

Trụ đá sư tử này có vẻ giống các trụ đá vua A Dục sai xây đắp nhưng không có một bút tích hay bia ký nào cho chúng ta xác định rõ trụ đá này thuộc thời đại vua A Dục cả.  Gần trụ đá này, về phía Nam, có một hồ nước nhỏ, mà tương truyền rằng đó là vũng nước mà hàng 2000 năm xưa, đàn khỉ đã đào để lấy nước dâng Ðức Phật uống mỗi ngày.  Vì thế, hồ nước này có tên gọi là Rama-Kund hay là Markata-Hraka, có nghĩa là “hồ nước của lòai khỉ.”  Về phía Tây Bắc, một nền đất của một ngôi đền còn sót lại.  Ngôi đền này ngày xưa được vua A Dục sai xây cất bằng gạch nung và một ngôi tháp có dấu hiệu vua A Dục xây còn sót lại trên mảnh đất hoang sơ một thời trù phú và quan trọng này.

Thời gian đã làm phai mờ và rụi tàn bao nhiêu đền đài, bảo tháp, nhưng những thánh địa Phật Giáo vẫn luôn luôn là quê hương tìm về của những người con Phật.

Nguyên bản: Buddhist Shrines In India

Этот метод требует максимального времени, терпения, а также повышенных финансовых расходов, но именно белое seo гарантирует не просто попадание на первую страницу поисковой системы, но также это и гарантия того, что сайт не попадет под фильтры поисковика и к нему не будут применены санкции за попытки манипулирования выдачей topodin, Сейчас он в Сети преподносится как “сверхновое ультрасовременное digital-направление”, однако его использовали еще до появления интернета


Các bài viết khác

Đặc điểm các tông phái Phật giáo Nhật Bản

Đặc điểm các tông phái Phật giáo Nhật Bản

Chân ngôn chính là cái thể hiện chân lý tuyệt đối của vũ trụ, là lời dạy của đức Đại Nhật Như Lai, là giáo thuyết Tức Thân Thành Phật (thành Phật ngay nơi thân nầy). Chân Ngôn Tông cho rằng ngay trong đời hiện tại có thể thành Phật. Hằng ngày sáng tối siêng năng chỉnh trang bàn thờ Phật...

Nguồn gốc Phật giáo

Nguồn gốc Phật giáo

Đại Bồ-đề hội là một đoàn thể rất có thế lực trong công cuộc vận động phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ hiện thời. Sáng lập vào năm 1891, chi bộ đều có đặt ở các chỗ như là Nữu-ước, Luân Đôn, v.v... Sự bố giáo hầu khắp Âu Mỹ. Rồi đến toàn Tích Lan Phật giáo đại hội...

Mạn đàm về chiếc bao lì xì và bàn tay của thiền sư Ma Tuyến

Mạn đàm về chiếc bao lì xì và bàn tay của thiền sư Ma Tuyến

Tập quán lì xì của người Việt chúng ta thực sự bắt nguồn từ một truyền thống lâu đời của Trung Quốc, và không nhất thiết là chỉ dành riêng cho trẻ con vào dịp Tết mà còn cho cả người lớn trong các dịp lễ lạc và giao tiếp xã hội quanh năm...

Bí ẩn 14 tháp cổ Chàm trên đất Tây Sơn – Bình Định

Bí ẩn 14 tháp cổ Chàm trên đất Tây Sơn – Bình Định Nằm ngay cửa ngõ thành phố Qui Nhơn là hai ngọn tháp đứng sừng sững kề nhau, dân gian gọi là tháp Đôi. Theo các tư liệu xưa còn ghi chép được, tháp Đôi là tháp Hưng Thạnh. Ngày 10/7/1980, tháp Đôi được trùng tu đầu tiên ở Bình Định và được các nhà nghiên cứu xếp vào loại di

Phong trào cải cách Phật giáo  của Đại sư Thái Hư (1890-1947) và sự ảnh hưởng của nó

Phong trào cải cách Phật giáo của Đại sư Thái Hư (1890-1947) và sự ảnh hưởng của nó

Sự hình thành và phát triển của mọi sự vật giống như một thân cây sinh trưởng trong rừng cây, vóc dáng của nó như thế nào đều tùy thuộc vào tự thân và hoàn cảnh chung quanh nó. Sự tồn tại và phát triển của Phật giáo cũng tùy thuộc vào 2 nhân tố tự thân và ngoại cảnh...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

3385676