Trang chính » Chuyên mục » Nghệ thuật »

Sơ lược những đặc tính của âm nhạc Phật giáo Việt Nam

Tác giả : Giác An

Vũ điệu chư thiên, ảnh Huyền Châu

Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật sử dụng những âm thanh có tính chất nhạc đã được chọn lọc để biểu lộ, diễn tả ý tưởng, tâm tư, tình cảm thông qua tiếng hát, nhạc cụ hoặc nhạc giọng.

Vì tâm tư, tình cảm của con người luôn thay đổi theo môi trường, hoàn cảnh, không mấy ai có thể an định được tâm ý của mình, có người thì không thích yên tĩnh, có người thì không thích ồn ào và nhất là không khống chế được những nỗi vui buồn, hận ghét, v.v… đã chất chứa trong tâm thức của mình, từ đó âm nhạc đã xuất hiện trong đời sống của nhân loại. Nó đã trở thành một nhu cầu thực thụ để làm trung gian giải tỏa những trạng thái tình cảm, tâm tư cho con người. Kẻ vui thì có nhạc vui để giải trí, người buồn thì có nhạc buồn để giải sầu, trẻ con thì có lời ca ru để vỗ về giấc ngủ…

Âm nhạc giúp người ta giải khuây, giải stress, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe tùy theo loại nhạc người ta sử dụng với mục đích gì. Có người thỉ sử dụng nhạc để đốt thời gian trống vắng dư thừa. Có người sử dụng nhạc để kích động lòng yêu nước tăng sức chiến đấu cho chiến sĩ, hoặc để tăng năng suất công việc cho công ty, xí nghiệp, hoặc dùng cho giáo dục hay quảng cáo, v.v…

Âm nhạc còn có tính năng khác nữa, là lực hấp dẫn đối với người nghe, nó lôi cuốn người cảm thụ vào nội dung nhạc phẩm để rồi chuyển hóa họ vào các việc thiện ác nếu người đó đã có thói quen thích nghe nhạc đó. Vì vậy cũng giống như con dao hai lưỡi, có thể làm bếp và cũng có thể cắt vào tay của mình nếu bất cẩn sơ ý. Như vậy, âm nhạc có hai mặt: tốt và xấu.

Xưa kia, đức Phật Thích ca có chế ra giới: “Cấm xem nghe, đàn ca, hát xướng” do Ngài đã nhìn thấy phần tác hại của âm nhạc, bởi vì “Tỳ bà, não bạt làm rối loạn tâm người…”. Quả thật vậy, đã có nhũng tác phẩm âm nhạc làm cho nhều người đang buồn vì thất tình lại bị nghe nhạc sầu tình nên phải tự tử. Trong xã hội hiện nay, rất nhiều kẻ xấu lợi dụng âm nhạc kích động để xây vũ trường, để buôn bán ma túy cho giới trẻ, họ kiếm tiền một cách vô lương tâm để lại cho xã hội lớp thế hệ không còn nhựa sống, kết quả tệ nạn trộm cướp mãi dâm cứ tăng dần lên; rồi bệnh AIDS lan rộng, khiến cho bao nhiêu tan vỡ, hạnh phúc tan vỡ mà âm nhạc ngày nay là điểm hội tụ chính. Tác hại từ mặt xấu của âm nhạc thì nhiều lắm!

Ở Việt Nam, một trong những dòng chảy của nền âm nhạc có sự góp mặt của Âm nhạc Phật giáo, gồm ba lĩnh vực:

1. Lễ nhạc chính thống:

Bốn chữ “Lễ nhạc chính thống” người viết chỉ mượn ngôn từ để nói đến dòng Lễ nhạc từ xa xưa đã có trong các lễ Phật đản, Vu lan, Chẩn tế… trong các chùa chiền và trong Cung đình hoặc trong các bài ca, bài đọc tụng, ngâm tán trong các khóa lễ thường ngày ở các chùa, mà những giai điệu có bản sắc riêng của từng miền đúc kết lại thành truyền thống qua sự hành trì và truyền khẩu tiếp nối từ thế hệ trước đến thế hệ sau và duy trì cho đến ngày nay.

2. Cổ nhạc Phật giáo:

Cổ nhạc Phật giáo là những bài dân ca cổ truyền được đặt lời mới hoặc sáng tác mô phỏng theo dân ca ba miền, hoặc nhạc Phật giáo đã trở thành dân ca. Các hình thức trên được trình diễn tùy theo mỗi miền, mỗi địa phương, mỗi chùa mà có. Giai điệu và lời ca chỉ có truyền khẩu, không có văn bản ký âm. Riêng ở miền Nam thì ca Cải lương được phát triển nhiều hơn nhưng cũng rất ít soạn giả viết, vì lẽ biên soạn ca từ bài cải lương hoặc một vở tuồng, vở chèo thì phải thông hiểu giáo lý hoặc truyện tích Phật giáo ở mức độ tương đối; hơn nữa trong bối cảnh chung thì Cổ nhạc đang bị các loại nhạc trẻ lấn lướt nên chậm và khó phát triển. Hiện nay, theo tra cứu chúng tôi chỉ biết có vài soạn giả thôi. Thập niên 1960, có soạn giả Viễn Châu, thập niên 1980 có soạn giả Dương Kim Thành, thập niên 1990 có soạn giả Hồ Kiễng, thập niên 2000 có soạn giả Danh Phận và gần đây là Đại đức Minh giới, Đại đức Nghiêm Bình.

Hai dòng: Lễ nhạc Chính thống và Cổ nhạc Phật giáo, chúng tôi chưa nghiên cứu được nhiều nên trong bài viết này chưa thể trình bày chi tiết được.

3. Tân nhạc Phật giáo:

Sau khi Pháp đô hộ nước ta, nền Tân nhạc Phật giáo Việt Nam mới được hình thành. Nói Tân nhạc là để phân biệt với dòng nhạc Cổ truyền của Việt Nam. Tân nhạc Phật giáo ra đời sau Tân nhạc Việt Nam không lâu lắm, vì căn cứ một số tư liệu của Gia đình Phật tử trong giai đoạn Sơ khởi và hình thành (1930 – 1950) đã có lác đác các bài nhạc sinh hoạt tự các huynh trưởng sáng tác, hoặc lấy các ca khúc ngắn của nước ngoài rồi viết lời Phật giáo, mục đích chủ yếu là có bài hát để các em Đồng ấu Gia đình Phật hóa Phổ sinh hoạt thêm vui tươi. Năm 1951 thì đã có bài hát Phật giáo Việt Nam của nhạc sĩ Lê Cao Phan, sau đó có thêm nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba với bài Ngũ Đối, nhạc sĩ Thẩm Oánh với bài Thập loại chúng sanh, nhạc sĩ Hằng Vang với bài Anh đạo vàng, nhạc sĩ Bửu Bác, nhạc sĩ Ưng Hội, Dương Xuân Nhơn, Dương Xuân Dưỡng va nhiều nhạc sĩ nữa mà trong phạm vi bài viết này không thể kể hết được.

Như đã trình bày ở trên, âm nhạc Phật giáo Việt Nam là tốt, vì sao?

Vì trong lĩnh vực Lễ nhạc Chính thống và Cổ nhạc Phật giáo, người viết nhận thấy trong các bài lễ tụng, sau phần Dâng hương, tán dương công đức chư Phật, phần chánh kinh đều có những phần lập hạnh độ sanh cho mình và cho chúng sanh; những lời nguyện cầu cho quốc thái, dân an, mưa thuận gió hòa, nạn tai nghiệp chướng tiêu trừ, binh đao oan trái được giả kết, xây dựng lòng từ bi ban vui cứu khổ. Quả thật chưa có nội dung bài thế nhạc nào có thể nói là tốt hơn! Những vở tuồng chèo, tuồng cải lương có ảnh hưởng lớn trong quần chúng như: Vua Trần Nhân Tông, Quan Âm Thị Kính, Mục Liên cứu mẹ, Quan Âm Diệu Thiện, Ánh đạo vàng, Đôi mắt Thái tử Câu Na La, Cuộc đời đức Phật, Thái tử xuất gia, Tấm cám… đều ẩn chứa tính tích cực của hạnh nhẫn, sự dũng mãnh của nội tâm khi quyết tâm xả thân vì đạo đức và chân lý, đồng thời phô bày tội ác đúng với luật Nhân quả, tôn vinh cái thiện mỹ của người hành thiện khi từ con người phàm tục trở thành Phật, thành Bồ-tát… Kể cả các bài ca vọng cổ cải lương cũng đều có tư tưởng như thế để xây dựng cuộc đời tốt đẹp hơn, hoàn mỹ hơn.
Riêng lĩnh vực Tân nhạc Phật giáo thì có nhiều điều kiện hơn để phát triển thành nhiều thể loại ca khúc Phật giáo. Đóng góp nhiều cho nền Tân nhạc Phật giáo chính là Gia đình Phật tử, vì chính họ là người duy trì và phát triển. Họ là khán giả đông nhất xem văn nghệ Phật giáo, duy trì thường xuyên và tổ chức dàn dựng các chương trình văn nghệ Phật giáo qua các lễ Phật đản, Vu lan, Thành đạo, tất niên hằng năm. Họ là những người thưởng thức và có nhu cầu tiêu thụ nhạc phẩm Phật giáo nhiều nhất. Nói chung là họ rất trân quý âm nhạc Phật giáo.

Vì sao họ lại trân quý? Vì họ sống trong đoàn thể, tu tập và thực hành theo giáo lý của đức Phật. Qua mấy mươi năm chìm nổi theo thế sự và vì gia sự, gặp bao điều cay đắng của cuộc đời, nay chỉ nghe thoáng qua một câu ca mà họ thường hát khi xưa thì liền nghiệm ra chân lý của đức Phật. Cũng có thể các bậc nhạc sĩ tiền bối lão thành ngày nay chính là những huynh trưởng kính mến của họ khi xưa? Thú thật! Tôi rất yêu gia đình Phật tử vì tôi từng là đoàn sinh GĐPT thuở bé và là Cựu huynh trưởng ngày nay.

Thật ra, GĐPT trân quý âm nhạc Phật giáo còn vì một khác nữa, đó là nhạc Phật giáo không thể bịa ra rồi viết được. Phải viết đúng Chánh pháp và phải sống trong Chánh pháp thì mới viết được! Phải biết yêu thương muôn loài, vạn vật thiên nhiên, phải biết quý trọng đạo lý làm người, phải thể nhập thì mới có thể viết được những ca khúc Phật giáo. Không ai có thể hát một bài nhạc của kẻ bất hiếu mà viết “Làm con phải hiếu…” được cả. Thế nhạc thì tự do bịa hết nhạc tình này đến chuyện tình khác, còn nhạc sĩ Phật giáo thì không thể như thế được. Do đó GĐPT rất trân quý âm nhạc Phật giáo, vì họ thấy những nhạc sĩ Phật giáo đang sống như tác phẩm của mình.

Nhờ có GĐPT mà Tân nhạc Phật giáo ngày càng thêm phong phú. Họ chia âm nhạc Phật giáo thành nhiều thể loại: Nhạc lễ, nhạc nghi thức, nhạc sinh hoạt, nhạc sân khấu, nhạc tu tập, nhạc thể nhập nhân gian, nhạc Phật giáo hòa tấu, nhạc đọc truyện tích, v.v… Nhờ có văn nghệ GĐPT mà nền âm nhạc Phật giáo đã thu hút thêm nhiều nhạc sĩ sáng tác thêm nhiều ca khúc mới với nhiều hình thức mới.

Một trong những hình thức mới của âm nhạc Phật giáo như gần đây đã có phong trào khởi xướng sáng tác thể loại nhạc phổ giai điệu cho các kinh tụng hằng ngày như những sáng tác của nhạc sĩ Võ Tá Hân. Đây là một thể loại nhạc rất khó sáng tác, thuộc loại khó nhất đấy! Vì số lượng chữ trong Kinh rất nhiều, nội dung tư tưởng từng đoạn, từng trang diễn tiến khác nhau; hơn nữa cảnh giới mà chư Phật thuyết thì chưa chắc chúng ta thấy hoặc thể nhập được nếu không chuyên tu, cho nên không thể thả vào đó những ca từ, những giai điệu nghe cho vui tai mà được đâu. Người phổ nhạc phải có tín tâm, phải có trình độ Phật học nhất định, phải có trình độ nhạc lý và khả năng chuyên môn cao mới thực sự sáng tác được.

Thể loại nhạc hóa kinh tụng hằng ngày không có nghĩa là sẽ thay thế cách tụng kinh truyền thống mà chỉ sử dụng loại nhạc này để ứng dụng cho khế hợp với thời gian, hoàn cảnh của Phật tử hoặc để tăng hiệu quả cho Phật sự hoằng pháp. Công dụng thể loại này rất lớn, có thể áp dụng khi bận rộn không có thời gian đi chùa tụng kinh, ta vừa làm chuyện nhà mà vẫn có thể nghe kinh, xem như tham dự gián tiếp các khóa lễ. Âm thanh trầm bỗng của nhạc kinh sẽ hổ trợ cho sự chú tâm lắng nghe, tiếng hát lời kinh giúp tạo niệm thanh tịnh, khởi thiện nghiệp, hiện tiền vị lai chủng tử Phật pháp được gieo trồng, thiện căn ngày càng tăng trưởng. Do đó công đức sinh ra từ thể loại nhạc phổ hóa kinh tụng ngày càng nhiều.

Hiện nay, pháp môn Tịnh độ đang được phát triển trong các đạo tràng tu học ở nhiều chùa, từ đó lại có thêm một thể loại nhạc niệm hồng danh chư Phật, chư Bồ-tát nữa. Loại nhạc này làm tăng thêm tính nhặt khoan, nhẹ nhàng cho mỗi câu niệm tạo nên cảm hứng khi hát lên những danh hiệu Phật; gây được thiện cảm với những người nghe ngoài đạo tràng và khiến quên bớt mỏi mệt khi đi kinh hành; (đối với người sơ cơ) thì dễ nhiếp tâm hơn khi nghe nhạc niệm Phật, tạo được sự thư giản tinh thần và dễ ngủ khi nằm nghe. Thể loại nhạc này có thể bố trí âm thanh phát ra với mức nhẹ nhỏ vừa phải trong các trà thất, hoa viên chùa, những quán cơm chay hoặc trong thư viện… sẽ tạo được hiệu quả ấm cúng, nhẹ nhàng thanh thoát của không gian. Tùy theo mức hay dở của bản nhạc mà hiệu quả đạt được nhiều hay ít.

Tóm lại, ba lĩnh vực ÂM NHẠC PHẬT GIÁO đã nêu trên đều mang ý nghĩa góp phần  tích cực chuyển hóa. Chuyển hóa khổ đau thành an lạc, mê mờ thành sáng suốt, ích kỷ nhỏ nhen thành vị tha, vô ngã; chuyển địa ngục thành Niết-bàn, chuyển phàm thành Thánh. Ý nghĩa cao đẹp của  âm nhạc Phật giáo đã được khẳng định rồi, còn vấn đề hay dở của giai điệu và tiết tấu là do người sáng tác, người biểu diễn và người cảm thụ âm nhạc.

Với kiến văn còn thô lậu, người viết không thể trình bày hết những lợi ích cũng như sự phát triển của nền âm nhạc Phật giáo, chỉ mong sao giới Phật tử chúng ta hãy cố gắng phát huy ÂM NHẠC PHẬT GIÁO ngày càng được tiến triển, ngõ hầu góp phần chuyển tải được phần nào giáo lý Phật đà đến khắp chốn nhân sinh, để ngọn đèn tuệ giác của Như lai xóa đi mọi bóng tối của vô minh, của đau thương luân hồi sanh tử.

При продвижении конкурентных поисковых запросов трудно попасть в ТОП 10 Яндекса, если выбранному слову соответствует лишь одна страница на сайте, продвижение сайта с topodin: Веб-дизайн &laquo,В будущем на рынке останется два вида компаний: те, кто в Интернет и те, кто вышел из бизнеса&raquo,


Các bài viết khác

Nghệ thuật điêu khắc trong Phật giáo

Nghệ thuật điêu khắc trong Phật giáo

Từ thời cổ đại, nhiều tôn giáo lớn đã biết sử dụng sức mạnh của Hội Họa, Điêu Khắc như một phương tiện để phát triển đạo giáo và tín ngưỡng của mình. Hơn nữa, những tác phẩm mỹ thuật, dù dưới hình thức nào đi nữa, cũng diễn tả được rất nhiều điều mà người thuyết giảng không thể nói...

Võ học Bình Định

Võ học Bình Định

Mạch võ Bình Định như một dòng sông, lúc uốn khúc, lúc bằng phẳng, khi vơi khi đầy, nhưng với khí thế của đất trời "ba dòng sông chảy, ba dãy non cao, biển đông sóng vỗ dạt dào, tháp kia làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh", dòng chảy ấy không bao giờ dứt...

Đặc điểm các tông phái Phật giáo Nhật Bản

Đặc điểm các tông phái Phật giáo Nhật Bản

Chân ngôn chính là cái thể hiện chân lý tuyệt đối của vũ trụ, là lời dạy của đức Đại Nhật Như Lai, là giáo thuyết Tức Thân Thành Phật (thành Phật ngay nơi thân nầy). Chân Ngôn Tông cho rằng ngay trong đời hiện tại có thể thành Phật. Hằng ngày sáng tối siêng năng chỉnh trang bàn thờ Phật...

Nguồn gốc Phật giáo

Nguồn gốc Phật giáo

Đại Bồ-đề hội là một đoàn thể rất có thế lực trong công cuộc vận động phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ hiện thời. Sáng lập vào năm 1891, chi bộ đều có đặt ở các chỗ như là Nữu-ước, Luân Đôn, v.v... Sự bố giáo hầu khắp Âu Mỹ. Rồi đến toàn Tích Lan Phật giáo đại hội...

Mạn đàm về chiếc bao lì xì và bàn tay của thiền sư Ma Tuyến

Mạn đàm về chiếc bao lì xì và bàn tay của thiền sư Ma Tuyến

Tập quán lì xì của người Việt chúng ta thực sự bắt nguồn từ một truyền thống lâu đời của Trung Quốc, và không nhất thiết là chỉ dành riêng cho trẻ con vào dịp Tết mà còn cho cả người lớn trong các dịp lễ lạc và giao tiếp xã hội quanh năm...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Cố trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Quốc sư Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh - Viện chủ chùa Tân Tân, An Nhơn, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu - Trụ trì Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • Hòa thượng Thích Viên Tánh - Viện chủ chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978)
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973)
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978)
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897 - 11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT.  Thích Tịnh Khiết (1890 - 1973) - Cố Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Phước Thành (1918 - 2013), Trưởng lão Tăng già Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878 - 1979) - Cố Đệ Nhị Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927 - 2005) - Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904 - 1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định đương vi trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Cao tăng miền Bắc Việt Nam
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992) - Cố đệ tam Tăng thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008) - Cố Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN
  • HT. Thích Kế Châu (1922 - 1996) - Trú trì Tổ đình Thập Tháp Di Đà, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982) - Đệ nhất trú trì Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

3168902