Trang chính » Chuyên mục » Nghệ thuật »

Tăng Ni với Văn Nghệ

Tác giả : Tỳ Kheo Thích Giác Quả

Sông Hương bên chùa Thiên Mụ, ảnh Huyền Châu

Vào một sáng chủ nhật đẹp trời, như thường lệ, Phật tử Tâm Ngộ đến chùa Hồng Đức học Phật pháp, nhưng được nghỉ bởi vị Giáo thọ bị bệnh. Thuận duyên, Phật tử vào thăm thầy Trú trì, một cuộc đàm thoại giữa thầy và trò về đề tài “Tăng Ni với văn nghệ” được diễn tiến với nội dung như thế này:

Trò:  “Nam mô  A Di Đà Phật! Thưa thầy, nội dung cụ thể của văn nghệ là gì?

Thầy: Là nghệ thuật biểu diễn văn học qua các hình thái như ca kịch, múa hát, hoà tấu v.v.

Trò:  Vì sao thầy đặt đề tài này để đàm đạo?

Thầy: Vì rằng, thời xưa Tăng Ni không có sinh hoạt việc này; ngược lại, giờ đây đa phần Tăng Ni, mà nhiều nhất là Tăng Ni trẻ lại hăng say, hoan hỷ với văn nghệ. Sự kiện này được biểu hiện một cách bình thường, tự tại ở khá nhiều địa điểm, như các trường Trung cấp, Học viện, một số Tu viện, Tự viện và các buổi thuyết pháp, pháp thoại cho các đạo tràng tu học hay quần chúng.

Trò:   Thế thì, trên sự thật, Tăng Ni sinh hoạt văn nghệ được không?

Thầy: Không thể được.

Trò:   Vì sao? Thưa thầy!

Thầy: Vì rằng Tăng Ni đã thọ những giới không được sinh hoạt văn nghệ.

Trò:   Xin thầy vui lòng dẫn chứng cụ thể!

Thầy:  Chẳng hạn, như Sa-di thì giữ giới thứ 7: “Không được ca, vũ, hoà tấu, biểu diễn hay đi xem nghe”; Sa-di ni thì giữ giới thứ 8 có nội dung tương tợ như thế. Nếu là Tỷ-kheo thì giữ thêm giới thứ 79 của Ba-dật-đề (Tứ phần luật) hay giới 124 của Ni-tát-kỳ ba-dật-đề (Ma-ha Tăng kỳ luật) v.v.

Trò:  Riêng về các Kinh, đức Phật có dạy vấn đề này hay không?

Thầy: So với tạng Luật, thì trong tạng Kinh những vấn đề liên hệ đến văn nghệ được đức Phật dạy bảo rất nhiều. Đại ý của những lời dạy ấy, tựu trung được quy kết trong hai điểm: đó là, nguyên nhân của sự sinh hoạt văn nghệ và hậu quả của sự sinh hoạt ấy. Nơi đây, thầy chỉ nêu ra một Kinh đại biểu, đó là Kinh số 907 của Tạp A-hàm. Đại ý đức Phật dạy rằng, do Tam độc tham-sân-si mà con người được sinh ra, đời này làm ca kỹ là tăng thêm Tam độc cho mình. Nếu cho rằng, làm nghề ca kỹ là đem niềm vui đến cho mọi người, hẳn sẽ được phước báo, thì đó là tà kiến. Mà tà kiến thì tương lai sẽ đọa vào trong hai ác xứ, đó là địa ngục hay súc sanh. Đồng thời, cũng theo Kinh này, không riêng gì hàng xuất gia phải đoạn tuyệt vấn đề văn nghệ, mà ngay cả hàng Phật tử tại gia cũng phải từ bỏ.

Trò:  Bởi nguyên nhân gì mà đức Phật cấm hàng đệ tử sinh hoạt văn nghệ?

Thầy: Đáp án cho nghi vấn này đã khá rõ ràng ở câu trả lời vừa rồi; dù vậy, thầy thấy cần phải khẳng định một lần nữa để được minh bạch hơn. Sở dĩ đức Phật không cho phép các đệ tử sinh hoạt văn nghệ, nhất là hàng xuất gia; vì rằng, văn nghệ là pháp thế gian nằm trong nội dung của ngũ dục, lục trần, chúng là những đối tượng trói buộc con người (nói riêng) trong vòng khổ đau luân hồi.

Sinh ra làm người vốn do tham-sân-si, một người đã phát tâm xuất gia mà lại đam mê sinh hoạt văn nghệ là vẫn sống với pháp thế gian, vấn đề này giống như “Ngựa quen lối cũ”, vẫn đi tìm các lạc thọ mộng mị, vô thường của trần thế để đáp ứng cái bản năng tham ái tục luỵ của mình, làm cho độc tố tham-sân-si tăng trưởng mãnh liệt hơn nữa. Thế nên, đã là người xuất gia thì phải sống chết với pháp xuất thế gian, bằng cách là phải học, phải hành trì tinh nghiêm Giới-Định-Tuệ từ cấp độ hữu lậu đến vô lậu, nhằm chế ngự và diệt tận tham-sân-si từ thô đến tế. Đây là việc làm chủ yếu của người xuất gia, và trên thực tế, không dễ gì một sớm một chiều mà có thể thành tựu. Cho nên, một người xuất gia tu tập nghiêm túc thì đâu có thì giờ để rong ruỗi, vọng động theo các  trò của văn nghệ.

Trò:  Thầy nghĩ gì về một số vị Tôn-túc đã dùng văn nghệ trong việc giáo hoá của mình?

Thầy: Quan điểm của thầy cũng như những vị có Chánh kiến, là tuyệt đối nương tựa Pháp (Chánh pháp) chứ không nương tựa người (Y pháp bất y nhân – trong Pháp tứ y). Giả sử thầy được may mắn được sinh vào thời đại Chánh pháp, thì cũng giữ những lập trường như vậy mới bảo đảm một trăm phần trăm cho sự tu tập khỏi bị lệch hướng, như đức Phật đã dạy trong kinh Kalama. Vì thế, bác phải căn cứ Kinh, Luật để nhận xét, không riêng gì vấn đề này mà chung cho tất cả mọi việc xảy ra trong đời sống của bác. Nếu thực hiện được như thế, bác sẽ có Chánh kiến rất nhuần nhuyễn và thiện xảo.

Trò:  Con nghe một số thầy, cô bảo rằng: “Ca hát… là phương tiện đi vào  thiền định”. Xin thầy cho ý kiến!

Thầy: Câu này nghe ra, lạ tai quá! – May mắn nhờ sự gia trì của Tam Bảo, thầy được hạnh phúc đọc khá nhiều Kinh và Luật, nhưng chưa bao giờ gặp được một lời dạy của đức Phật như thế.

Nói đơn giản, một hành giả tu Thiền, theo truyền thống, trước hết phải hành trì Giới luật nghiêm túc (mà Giới-luật ấy đã ngăn cấm việc ca hát rồi) để thân tâm nhẹ nhàng, trong sáng; kế tiếp, là tu tập Thiền định. Sơ thiền là quả đầu tiên mà hành giả phải chứng đạt để làm nền tảng cho sự chứng đạt cao hơn. Để chứng sơ thiền, đòi hỏi hành giả phải loại trừ năm thứ triền cái (trạo cử, hôn trầm, tham dục, sân nhuế và nghi) ra khỏi tâm ý của mình; và thay vào năm thứ thiền chi (tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm, xả). Nếu đối chiếu với năm triền cái thì việc ca hát (văn nghệ) thuộc chi phần “trạo cử” và “tham dục”. Qua đây, thật quá rõ rằng, ca hát là một chướng ngại rất lớn không chỉ tu Thiền, mà chung cho cả các pháp môn tu tập khác. Như thế, tại sao ai đó lại tuyên bố lẫn lộn một cách đáng tiếc như vậy!

Trò:  Ở góc độ nào đó trên mặt tương đối, Tăng Ni có sử dụng văn nghệ được không? Thưa thầy!

Thầy: Có thể được. Cụ thể như hai trường hợp sau:

Thứ nhất, một vị Tăng hay Ni với phát nguyện chân chánh hoá độ người, nhưng căn cơ người ấy chỉ có văn nghệ mới độ được, thì vị ấy có thể dùng phương tiện văn nghệ để tế độ họ. Ngược lại, nếu Tăng, Ni mà tự mình thường ca hát, dạy kẻ khác ca hát, hoặc tự soạn nhạc và tích cực tham gia các buổi văn nghệ như một pháp môn tu tập, trao  truyền cho cả giới xuất gia lẫn tại gia, như thế là chống trái với Pháp và Luật của đức Phật.

Thứ hai, ở các trường Phật học, nếu bất đắc dĩ phải sử dụng văn nghệ, thì có thể chấp nhận. Tuy nhiên, sử dụng văn nghệ này phải nằm vào trong một giới hạn nhất định. Chẳng hạn, về nơi chốn và thời gian phải được cấp trên qui định; bên cạnh, vấn đề quan trọng hơn, đó là hình thức và nội dung diễn đạt văn nghệ phải làchuyên chở hình thức và nội dung của đạo Phật, như những sự tích ghi trong Kinh, Luật…, về những hành trạng của chư Tổ, chư Thánh Tăng, chư Bồ-tát hay những mẫu truyện tiền thân của đức Phật. Nếu thực hiện được như thế, có thể tạm gọi là văn nghệ Phật giáo; bằng không thì đừng văn nghệ thì tốt hơn.

Trò:  Thưa thầy, sáng nay cả lớp nghỉ học, riêng con lại may mắn là được học, được tiếp thu nhiều điểm Phật pháp then chốt để củng cố lập trường tu học của con thêm kiên định. Con xin cảm ơn thầy!

Thầy: A Di đà Phật! Chúc bác tinh tấn và thành tựu tốt đẹp trong sự tu học của mình!”

Trích: Nẻo Về Hai Lối, tác giả cùng tên

То, что Вы сегодня узнаете, сделает Вас на голову выше многих авторов Рунета, Студия Topodin, Их мясо можно перевести в разряд деликатесов, сбалансировав рацион питания


Các bài viết khác

Nghệ thuật điêu khắc trong Phật giáo

Nghệ thuật điêu khắc trong Phật giáo

Từ thời cổ đại, nhiều tôn giáo lớn đã biết sử dụng sức mạnh của Hội Họa, Điêu Khắc như một phương tiện để phát triển đạo giáo và tín ngưỡng của mình. Hơn nữa, những tác phẩm mỹ thuật, dù dưới hình thức nào đi nữa, cũng diễn tả được rất nhiều điều mà người thuyết giảng không thể nói...

Võ học Bình Định

Võ học Bình Định

Mạch võ Bình Định như một dòng sông, lúc uốn khúc, lúc bằng phẳng, khi vơi khi đầy, nhưng với khí thế của đất trời "ba dòng sông chảy, ba dãy non cao, biển đông sóng vỗ dạt dào, tháp kia làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh", dòng chảy ấy không bao giờ dứt...

Đặc điểm các tông phái Phật giáo Nhật Bản

Đặc điểm các tông phái Phật giáo Nhật Bản

Chân ngôn chính là cái thể hiện chân lý tuyệt đối của vũ trụ, là lời dạy của đức Đại Nhật Như Lai, là giáo thuyết Tức Thân Thành Phật (thành Phật ngay nơi thân nầy). Chân Ngôn Tông cho rằng ngay trong đời hiện tại có thể thành Phật. Hằng ngày sáng tối siêng năng chỉnh trang bàn thờ Phật...

Nguồn gốc Phật giáo

Nguồn gốc Phật giáo

Đại Bồ-đề hội là một đoàn thể rất có thế lực trong công cuộc vận động phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ hiện thời. Sáng lập vào năm 1891, chi bộ đều có đặt ở các chỗ như là Nữu-ước, Luân Đôn, v.v... Sự bố giáo hầu khắp Âu Mỹ. Rồi đến toàn Tích Lan Phật giáo đại hội...

Mạn đàm về chiếc bao lì xì và bàn tay của thiền sư Ma Tuyến

Mạn đàm về chiếc bao lì xì và bàn tay của thiền sư Ma Tuyến

Tập quán lì xì của người Việt chúng ta thực sự bắt nguồn từ một truyền thống lâu đời của Trung Quốc, và không nhất thiết là chỉ dành riêng cho trẻ con vào dịp Tết mà còn cho cả người lớn trong các dịp lễ lạc và giao tiếp xã hội quanh năm...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

3386327