Trang chính » Chuyên mục » Văn hóa »

Tìm hiểu ảnh hưởng Phật giáo trong mẫu hệ Chăm

Tác giả : Thông Thanh Khánh

minh họa, ảnh Stt

Đứng về địa danh học (Toponymy) Chămpa là một vương quốc có không gian văn hóa hết sức đặc biệt trong khu vực Đông Nam Á. Từ hàng ngàn năm trước vương quốc Chămpa luôn niềm nở đón nhận bao hế hệ của nhiều thuyền buôn các nước khu vực tìm đến giao thương buôn bán, trong đó quan trọng nhất là con đường hương hiệu trao đổi sản vật đã có mặt tại Chămpa từ rất xa xưa. Ngoài những hải cảng đã được biết đến, vương quốc Chămpa vẫn còn nổi tiếng với nền nông nghiệp tiên tiến, một nền văn minh nội tại được phát triển từ nguồn lực của núi cao, biển rộng. Theo thư  tịch cổ Trung Quốc ngay như còn mang tên nước là Hồ Tôn trước Thiên Chúa giáng sinh Chămpa đã từng giao thiệp với nhà Chu bên Tàu, bên cạnh đó Chămpa đã tiếp thu ền văn minh Ấn Độ ngay từ rất sớm cộng với văn minh bản địa đã cho phép quốc gia Chămpa đi đến một nguồn lực văn hoá sinh động. Các lớp văn hóa bản địa được khúc xạ trong tài sản văn hóa chung của dân tộc cho thấy dấu hiệu của quá trình giao lưu, tiếp bước văn hóa của các tộc người trong khu vực là những gì minh định rõ nhất cho một nền văn hóa vốn được xem là nguồn văn minh rực rỡ nhất của khu vực.

Do lịch sử hình thành và phát triển dựa trên hai nguồn lực của nền văn minh nông nghiệp được phát sáng một cách rực rỡ dựa trên tiền đề của nền văn minh Sa Huỳnh tiến đến tiền Chămpa, yếu tố chính vẫn là sự có mặt không thể thiếu vắng một nền nông nghiệp của miền duyên hải. Nền nông nghiệp là nguồn gốc của văn minh lúa nước được xuất hiện khá sớm tại Chămpa nhờ công nghệ chế tác sắt (giai đoạn Sa Huỳnh sắt) đi vào hoàn thiện. Sự có mặt của lúa 100 ngày được cổ sử Trung Hoa, Đại Việt đề cập càng giúp cho ta thấy được tầm vóc nông nghiệp của quốc gia này phát triển như thế nào so với các nước láng giềng và khu vực.

Đề cập đến văn minh nông nghiệp, một nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng “Nói đến văn minh nông nghiệp là nói đến Mẹ (mẫu hệ)” tính chất cộng cư sống cố định theo tổ chức huyết thống hay quan hệ huyết thống trong một không gian  nhất định là yếu tố của trạng thái tĩnh đi vào cuộc sống hướng nội. Durkheim (1858 – 1917) nhà nghiên cứu xã hội người Pháp cho rằng gia đình được phát khởi từ bộ lạc (clan) rõ ràng là một cơ quan chính trị hơn là một cơ sở của tộc họ. Theo thời gian, gia đình khổng lồ thu nhỏ lại tạo nên gia đình Nữ tộc (Utérine) gồm anh em cùng mẹ khác cha sống chung và sau đó biến thành gia đình Nam tộc (Masculine). Ông cũng cho rằng sự thành lập gia đình theo tiến trình trên đều do bởi chính trị, một là họ phải đoàn kết để bảo toàn đoàn thể, hai là họ phải thờ một giống thú hay một loài thảo mộc nào đó (To Tem). Đặc tính tín ngưỡng Thần nữ cũng được xuất hiện từ đây như là tính chất mẫu hệ đầu tiên được thấy xuất hiện trong quan niệm của người Trung Quốc. Mẹ vua Phục Hy (đời Tam Hoàng) dẫm phải dấu chân to lớn rồi sinh ra ông, Mẹ Hoàng Đế (đời Ngũ Đế) thấy điển vây quanh sao Bắc Đẩu rồi có mang, mẹ vua Nghiêu hợp hôn với rồng đỏ rồi sanh ra ông… Đây được xem là tàn dư của tính chất Nữ tộc (Utérine) còn lại trong xã hội Trung Hoa trước khi bước đến gia đình Nam tộc.

Đi ngược với quan niệm của nhà xã hội học Durkheim về gia đình Nữ tộc và sự biến đổi thành gia đình Nam tộc (Máculine) xã hội người Chăm thông qua yếu tố đậm đặc của nguồn văn minh nông nghiệp đã có một tổ chức thiết kế xã hội một cách độc đáo. Lấy nền tảng thiết chế Mẫu hệ đưa vào xã hội tộc người, đây không phải là quan niệm bảo thủ hay đi lùi lại thời kì sơ khai của tổ tiên loài người, ngược lại đây là một tiến trình phát triển tột đỉnh về tính chất bình đẳng phân công hợp lý theo đúng thiên chức, khả năng một cách hoàn chỉnh trong cơ cấu xã hội tộc người. Mẫu hệ Chămpa hiểu một cách thấu đáo đó là tính chất của Mẫu tính (Matronymic) lấy họ mẹ đặt cho con và Mẫu cư (Matrolocal) người đàn ông theo vợ. Tổ chức cao nhất của xã hội Chămpa là thị tộc dưới thị tộc là chiết Atâu (tộc họ), dưới chiết Atâu là chiết Parô (chi tộc) do bà Tôn chi (Mmuparo) đứng ra đảm trách mội công việc quan hôn – tang tế và cuối cùng là tiểu gia đình (Mư nga Won) do người vợ làm chủ nắm giữ tay hòm.

Mẫu hệ ở đây được phân công một cách hợp lý và đúng chức năng của nó. Tuy nói rằng phụ nữ là người chủ gia đình, Nam giới không đảm trách vai trò này nhưng thật ra vai trò của nam giới đối với gia đình khá quan trọng chi phối mạnh mẽ đến cuộc sống gia đình và xã hội, nhìn sâu vào giai tầng chúng ta có thể thấy rằng đây là một thiết chế bình đẳng hợp lý trong vai trò xây dựng và phát triển gia đình và xã hội. Điều này có thể chứng minh rằng trong lịch sử Chămpa chưa thấy một vị vua Nữ nào lên nắm quyền, hầu như tất cả là nam giới. Chính từ điểm này chúng ta có thể nhìn về một tư tưởng Phật giáo. Từ cơ sở phát triển với nguồn lực nông nghiệp lúa nước và văn minh biển, cộng đồng cư dân Chămpa đã hình thành và phát triển nên một cấu trúc xã hội và thiết chế gia đình mẫu hệ. Tiếp thu từ triết lý phật giáo, về sau thiết chế mẫu hệ như được nâng cao hơn tiến tới một nấc thang phát triển nhất của xã hội với cơ chế bình đẳng. Điều này rất phù hợp khi mà Phật giáo đã có mặt trước hơn cả đạo Bà-la-môn. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang đời Đường trong chuyến viễn du các vương quốc Đông Nam Á đã có nhắc đến một nước phật giáo có tên gọi Ma ha Campa (Đại Chiêm) hay Thiền sư Nghĩa Tịnh trong ghi chép của mình đã sắp xếp Chămpa là vương quốc theo tinh thần phật giáo Đại thừa. Năm 603 tướng Lưu Phương đánh chiếm Chămpa đã lấy đi 1.350 bộ kinh phật giáo. Khi vua Lê Đại Hành sang đánh chiếm Chiêm Thành có mang về một vị cao tăng Thiên Trúc, trong “Thiền Uyển Tập Anh” đề cập đến vị sư tên Đàm Khí mất vào đầu thế kỷ X; lúc đương thời sư theo học với vị sư Chiêm Thành và đắc đạo. Đặc biệt với Thiền sư Chiêm sư MaHaMaRa, sư người Chiêm Thành sang Đại Việt lấy họ Dương tu ở chùa quan Ái là một trong vị cao tăng nổi tiếng thời bấy giờ. Năm 1069 Lý Thánh Tôn bình Chămpa khi nhập thành Phật Thệ (Vijaya) và bắt được vua Rudravarman III (chế cũ) đã đưa về Đại Việt một vị sư tên Thảo Đường người Trung Hoa đang học đạo với vị sư Chiêm Thành, sau được triều đình trọng dụng phong làm Quốc sư. Thiền sư Thảo Đường đã lập nên một dòng Thiền (Dyana) tại đại việt mà sử sách còn ghi chép sự tích từ năm 1069 đến 1205. Truền thuyết và lịch sử Chăm còn ghi chép về NAI TANG YA BIA TAPAH thời đạo PÔ RA MÊ ( 1627 – 1651) một vị công chúa em ruột vua RA MÊ đã lên núi Chà Bang (Ninh Thuận) tu và chứng đạo được cộng đồng người Chăm đến nay vẫn còn tôn thờ một cách thành kính. Xem như thế biết rằng với Trung Hoa một mặt hướng về Chiêm Thành để tâm giáo lý phật giáo, một mặt cử người sang Tây Trúc thỉnh kinh, với Đại Việt biểu thị rõ hơn về mối giao lưu trong sự hiện diện của Phật giáo Thiền Tông và Mật Tông là mối liên hệ chặt chẽ giữa các tu sĩ hai nước vì có nhiều mặt tương đồng về tư tưởng và đường lối hành trì. Thực tế này cho thấy hệ thống tháp Đồng Dương, Đại Hữu, Mỹ Đức, động Phong Nha, di tích phật tượng Đan Bình đã tìm được nhiều tượng Bồ tát Quan Thế Âm (Avalokite Vara) và các loại Mandala hình lá đề trong  phương cách hành trì Mật Tông. Sự liên kết giữa hai dòng phái Thiền – Mật thật sự xuất hiện tại Phật giáo Chămpa thông qua ngôn ngữ điêu khắc được mô tả thuộc các di tích chúng tôi vừa nêu là một điều thích ứng cho một cộng đồng vốn ưa  cuộc sống suy tư hướng nhiều về thế giới nội tâm.

Tóm lại, sự phát triển của Phật giáo từ Ấn Độ thông qua con đường giao thương đã có mặt từ rất  sớm tại vương quốc Chămpa trong đó Phật giáo Đại thừa thật thụ đã đi vào đời sống xã hội Chămpa một cách mạnh mẽ. Từ cơ cấu của thiết chế mẫu hệ nguyên sơ thông qua tinh thần của nền tảng Đại thừa tiêu biểu là Thiền tông. Mật thừa cộng đồng người Chămpa đã tiếp thu và đưa vào cuộc sống một cách hữu hiệu. Từ tín ngưỡng mẫu hệ nguyên sơ đến hình tượng Bồ tát Quan Thế Âm trong đời sống tâm linh Phật tử. Nắm được tư tưởng tính chất Đại thừa Phật giáo cộng đồng người Chămpa đã thật sự thoát được cơ cấu thiết chế của tính chất chính trị đi vào tận cùng của thiết chế bình đẳng, xóa bỏ hoàn toàn quan điểm giới tính đề cao vai trò của con người trong cuộc sống xã hội, đó là hình thức quay lại với “tánh bổn thiện” thật thụ của một con người hành giả.


Các bài viết khác

Lễ tiểu tường và cắt băng khánh thành cổng Tam quan chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Lễ tiểu tường và cắt băng khánh thành cổng Tam quan chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Tp. Nha Trang – Sáng ngày 01 tháng 9 năm 2019 (nhằm ngày mùng 03 / 8 / Kỷ Hợi) Bổn tự, Bổn đạo chùa Tây Thiên thành kính cung đón chư tôn thiền đức Tăng Ni quang lâm và quý Phật tử vân tập về chùa tham dự lễ Tiểu tường cố Hòa thượng đạo hiệu Thích Viên Tánh và cắt băng khánh thành cổng Tam quan chùa Tây Thiên...

Thư mời và chương trình lễ Tiểu tường cố Hòa thượng Thích Viên Tánh – Viện chủ chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Thư mời và chương trình lễ Tiểu tường cố Hòa thượng Thích Viên Tánh – Viện chủ chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Thấm thoát mà 365 ngày Hòa thượng Bổn sư đạo hiệu Thích Viên Tánh quảy dép về Tây, để lại hàng đệ tử nhiều nỗi kính thương vô hạn. Bổn tự, Bổn đạo thừa hành di huấn lúc Hòa thượng Bổn sư còn sinh tiền, tiếp tục thắp sáng ngọn đèn thiền “truyền đăng tục diệm”, mở rộng Già lam và trùng hưng Tam bảo...

Lễ Vu lan Báo hiếu năm 2019 tại chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Lễ Vu lan Báo hiếu năm 2019 tại chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang

Tp. Nha Trang - Ngày Phật Đà hoan hỷ, sáng ngày Rằm tháng 7 âm lịch (15/8/2019) Bổn tự, Bổn đạo thiết lễ Vu lan Báo hiếu - cúng dường Tự tứ tại chùa Tây Thiên, Tp Nha Trang, nguyện đem công đức này nguyện cầu cửu huyền thất tổ lịch đại tôn thân quá vãng sớm siêu sanh lạc quốc, thân quyến còn tại thế Bồ đề tâm tăng trưởng, sở nguyện như ý...

Khai mạc pháp hội Vu Lan Báo Hiếu năm 2019 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Khai mạc pháp hội Vu Lan Báo Hiếu năm 2019 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Sáng ngày 07 / 07 / 2019 (nhằm 07 / 7 Kỷ Hợi), đạo tràng chùa Phước Long, Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định đã trang nghiêm khai mạc pháp hội Vu Lan Báo Hiếu năm 2019, Phật lịch 2563 dưới sự chứng minh của chư tôn thiền đức Tăng Ni, cùng sự tham dự đông đảo của đạo hữu, Phật tử gần xa về tham dự...

Thư mời và chương trình Pháp hội Vu Lan Báo Hiếu và Húy kỵ Ân Sư năm 2019 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Thư mời và chương trình Pháp hội Vu Lan Báo Hiếu và Húy kỵ Ân Sư năm 2019 tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Chùa Phước Long tổ chức Pháp hội Vu Lan Báo Hiếu 2019 cùng nhau tu tập kết mây lành để báo tiến Ân sư và hồi hướng phước báo đến Phụ mẫu sinh thành, thân bằng quyến thuộc còn tại thế thân tâm yên ổn; và cầu siêu cửu huyền thất tổ nhờ Phật lực và sức chú nguyện của chư Tăng trong ngày Tự tứ được siêu sinh dưỡng quốc...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

3385656