Trang chính » Chuyên mục » Sử học »

Tổ sư Nguyên Thiều với hành trạng và kệ thi tịch

Tác giả : Thích Thái Hoà

Tổ sư Nguyên Thiều tại Tổ đường Thập Tháp, Bình Định, ảnh Nhựt Lâm

LBBT: Hôm nay ngày 18 tháng 10 năm  Kỷ Hợi (nhằm 14.11.2019), Phật lịch 2563 là ngày kỵ Tổ sư Nguyên Thiều – Siêu Bạch, khai sơn Tổ đình Thập Tháp tại Bình Định. BBT kính đăng lại tiểu sử và hành trạng của ngài để hàng hậu học nương theo công hạnh ấy mà hoằng dương Phật pháp.

Tổ sư họ Tạ, húy Nguyên Thiều, tự Hoán Bích, sinh giờ Tuất, ngày 15 tháng 5 năm Mậu Tý, tức là ngày 8 tháng 7 năm 1648, tại huyện Trình Hưng, phủ Triều Châu, Quảng Đông. Năm 19 tuổi xuất gia với Hòa thượng Bổn Khao – Khoáng Viên tại chùa Báo Tư, ở Trung Hoa được Bổn sư trao cho Pháp danh Nguyên Thiều, tự Hoán Bích.

Ngài Bổn Khao – Khoáng Viên tiếp nhận đạo mạch từ Tổ sư Đạo Mẫn-Mộc Trần-Hoằng Giác, đời 31 phái thiền Lâm Tế.

Thiền kệ truyền thừa của ngài Đạo Mẫn như sau:

Đạo bổn nguyên thành Phật tổ tiên

Minh như hồng nhật lệ trung thiên

Linh nguyên quảng nhuận từ phong phổ

Chiếu thế chơn đăng vạn cổ huyền.

Như vậy, Tổ sư Nguyên Thiều trong đạo mạch truyền thừa Chánh pháp Nhãn Tạng đời thứ 69, từ Tổ sư Ca Diếp của Ấn Độ; đời thứ 33 từ Tổ sư Lâm Tế-Nghĩa Huyền và là đời thứ ba trong thiền kệ truyền thừa từ ngài Đạo Mẫn-Mộc Trần- Hoằng Giác, ở chùa Thiên Khai, Trung Hoa.

Tổ đình Quốc Ân – Huế truyền thừa theo thiền kệ của ngài Đạo Mẫn.

Đọc một số tư liệu khác, như bản Chánh pháp Nhãn Tạng, in năm 1889, lưu giữ tại chùa Viên Thông – Huế; Việt Nam Phật giáo sử lược của Thượng tọa Thích Mật Thể và bia tại ngôi tháp thờ vọng ở chùa Kim Cang Đồng Nai, thì pháp danh của Tổ sư Nguyên Thiều là Siêu Bạch được truyền thừa từ thiền kệ của Tổ sư Vạn Phong – Thời Ủy ở chùa Thiên Đồng – Trung Hoa.

Bài kệ như sau:

“Tổ đạo giới định tông

Phương quảng chứng viên thông

Hạnh siêu minh thật tế

Liễu đạt ngộ chân không”.

Nếu theo dòng kệ truyền thừa này, thì Tổ sư Nguyên Thiều trong đạo mạch truyền thừa Chánh pháp Nhãn Tạng là đời thứ 69, từ Tổ sư Ca Diếp tại Ấn Độ; đời thứ 33, từ ngài Lâm Tế – Nghĩa Huyền và đời thứ 12, từ ngài Vạn Phong – Thời Ủy của pháp phái Thiên Đồng ở Trung Hoa.

Năm Đinh Tỵ, tức năm 1677, Tổ sư đã đi theo thuyền buôn đến phủ Quy Ninh Đại Việt, tức là Quy Nhơn – Bình Định ngày nay, lập chùa Thập Tháp Di Đà truyền bá Phật pháp tại vùng này. Sau đó Tổ ra Phú Xuân lập chùa Vĩnh Ân và xây dựng tháp Phổ Đồng, tức là Tổ đình Quốc Ân ở Huế ngày nay, để tuyên dương Phật pháp và tháp Phổ Đồng do ngài xây dựng ngày ấy đã bị quân Tây Sơn phá sạch. Bấy giờ Tổ cũng đã trú trì chùa Hà Trung, ở huyện Phú Vang, Thừa Thiên ngày nay.

Theo một số tư liệu cho ta biết rằng, Tổ đã được chúa Nguyễn Phúc Thái thỉnh cầu sang Trung Hoa để thỉnh mời các danh Tăng, Phật tượng và pháp khí từ Trung Hoa đến Đại Việt để phụng thờ và hành đạo. Tổ Sư rất được chúa Nguyễn Phúc Thái kính trọng.

Trong chuyến đi này theo bi ký ở chùa Quốc Ân, do chúa Nguyễn Phước Thụ (1725 – 1738) viết: “Ngài đã đi, đã về và đã hoàn thành sứ mệnh với nhiều thành công và nhiều thành tựu to lớn”.

Về việc luận đạo và chứng ngộ, chúa Nguyễn Phúc Thụ viết ở bi ký rằng: “Trong những chỗ luận đạo, ngài đã chạm đến chỗ uyên áo tột cùng”.

Trong thời chúa Nguyễn Phúc Chu có những chính biến liên hệ đến Hoa kiều, Tổ sư Nguyên Thiều cũng đã bị chúa nghi ngờ có ít nhiều liên hệ, nên sự trọng vọng và ưu đãi không như thời chúa Nguyễn Phúc Thái, khiến sự hành đạo của Tổ đã có phần nào không thuận lợi ở thời điểm này, khiến các sử gia ngày nay đặt ra nhiều nghi vấn, nhưng chưa có sự trả lời nào có tính thuyết phục và thỏa đáng.

Trước khi viên tịch, Tổ đã gọi tứ chúng vân tập và dạy bảo những tông chỉ tu tập và hành đạo, rồi nói bài kệ khai thị cho tứ chúng xong, ngài ngồi ngay thẳng mà tịch, vào ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thân, tức ngày 20 tháng 11 năm 1728, hưởng thọ 81 tuổi.
Bài kệ thị tịch của ngài như sau:

“Tịch tịch cảnh vô ảnh

Minh minh châu bất dung

Đường đường vật phi vật

Liêu liêu không vật không”.

Nghĩa là:

“Vắng lặng gương không ảnh

Sáng soi ngọc không hình

Rõ ràng vật không vật

Rỗng không, không chẳng không”.

“Tịch tịch cảnh vô ảnh, minh minh châu bất dung”, nghĩa là “vắng lặng gương không ảnh, sáng soi ngọc không hình”. Hai câu này, Tổ dạy về “Thật tính Bát nhã”. Thực tính ấy bản nhiên thanh tịnh, xuyên suốt mọi không gian, nên không bị cách vật, không có năng sở, không có chủ thể, không có đối tượng; và tính ấy xuyên suốt mọi thời gian, nên không bị hủy diệt, nó không nhân ngã, không bỉ thử, nên bình đẳng tuyệt đối. Tính ấy kinh Kim Cang gọi là Vô vi; là Như. Tổ Huệ Năng gọi là “Bản lai vô nhất vật”; Minh Châu – Hương Hải, gọi là “Thể tính hư dung, chiếu dụng tự tại”.

“Đường đường vật phi vật, liêu liêu không vật không”, nghĩa là “rõ ràng vật không vật, rỗng lặng không chẳng không”. Hai câu này Tổ dạy về “quán chiếu Bát Nhã”. Nghĩa do quán chiếu Bát Nhã, thấy rõ mọi vật “Đương thể tức không”, nghĩa là ngay đó mà không và ngay nơi không mà muôn vật khởi hiện. Ngay đó mà không, kinh Kim Cang diễn tả bằng các mệnh đề phi và ngay nơi không mà muôn vật khởi hiện, kinh Kim Cang diễn tả bằng các mệnh đề thị. Các mệnh đề phi và thị của kinh Kim Cang được Phật sử dụng để diễn tả thực tại Như, không những ngay ở nơi vật mà ở ngay nơi phi vật; không phải ngay ở nơi không mà cả ngay ở nơi phi không. Vì vậy, Tổ Nguyên Thiều dạy: “Đường đường vật phi vật, liêu liêu không vật không”. Vật rõ ràng không phải là vật; không trống rỗng không phải là không, cái thấy này hoàn toàn không thuộc về cái thấy của nhục nhãn hay thiên nhãn mà nó là cái thấy quán chiếu duyên khởi để thấy rõ tánh – không thuộc về tuệ nhãn và pháp nhãn. Còn cái thấy thuộc Phật nhãn thì lúc nào và ở đâu cũng Như, nghĩa là cái thấy không còn quán và chiếu, không còn năng và sở, không còn có cái tôi và cái phi tôi, không còn pháp và phi pháp. Như Tổ Nguyên Thiều đã hiển thị: “Tịch tịch cảnh vô ảnh, minh minh châu bất dung”.

Như vậy, kinh Kim Cang Bát Nhã qua tay của Tổ sư Nguyên Thiều chứng nghiệm và sử dụng để hành đạo, chỉ còn lại gọn gàng bốn câu và mỗi câu đều là Như. Như không phải chỉ ở mặt thể tánh mà còn cả mặt chiếu dụng; Như không phải chỉ ở mặt vật mà còn cả mặt phi vật; không phải chỉ ở mặt không mà còn cả mặt phi không. Như ấy là như thật tri kiến mà kinh Kim Cang muốn hiển thị mà Tổ đã chứng ngộ vậy.

Nhân kỷ niệm húy nhật lần thứ 283 năm, Tổ sư Nguyên Thiều viên tịch, chúng con dâng lên cúng dường Tổ sư bài cảm niệm về hành tung và thi kệ thị tịch của ngài với tất cả lòng thành kính của chúng con, ngưỡng vọng Tổ sư phủ thùy chứng giám.

Tư liệu tham khảo:

– Quốc Sử Quán – Đại Nam Nhất Thống Chí – Duy Tân Tam Niên (1910).

– Quốc Sử Quán – Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên.

– Lịch Truyện Tổ Đồ.

– Thích Đại Sán – Hải Ngoại Kỷ Sự.

– Thích Mật Thể – Việt Nam Phật Giáo Sử Lược.

– Nguyễn Lang – Việt Nam Phật Giáo Sử Luận.

– Thích Thanh Từ – Thiền Sư Việt Nam.

– Cadière – La pagode Quốc Ân.

– Tạp Chí Sinologia No 1. 1949.

– B.A.V.H 1914, 1915.

– Văn bia Tháp Tổ Nguyên Thiều và chùa Quốc Ân


Các bài viết khác

Thông báo: Khoá tu “Một Ngày Phước Huệ” mùng 07 tháng 11 năm Kỷ Hợi (2019) tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Thông báo: Khoá tu “Một Ngày Phước Huệ” mùng 07 tháng 11 năm Kỷ Hợi (2019) tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Thông báo: Khoá tu “Một Ngày Phước Huệ” mùng 07 tháng 11 năm Kỷ Hợi (2019) tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định. Chúng con kính thỉnh chư tôn đức chứng minh, Bổn tự kính mời quý đạo hữu Phật tử, thiện tín gần xa về chùa Phước Long, số 33 Trần Quang Diệu, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định hoan hỷ về chùa tham dự...

Xin chào nguyên xuân

Xin chào nguyên xuân

Thực tập buông bỏ những hạt giống ích kỷ, tự ái, chấp ngã từ vô minh mù quáng và từ mê tín đến cuồng tín đối với một bản ngã hay đối với một cái ta, ta sẽ có đôi mắt sáng trong để nhìn muôn vật và nhận ra muôn vật đều là bạn của ta, ta gọi tên chúng và chúng cùng ta mỉm cười, rồi cùng nhau tự nhủ: “té ra thật tế là vậy”...

Người nhiếp thọ chánh pháp qua Kinh Thắng Man

Người nhiếp thọ chánh pháp qua Kinh Thắng Man

Bất cứ lúc nào cũng như ở đâu Nhiếp thọ chánh pháp và con người Nhiếp thọ chánh pháp đan xen vào nhau, tạo thành một thực thể sống động bất khả phân, thì ở đó và lúc đó chánh pháp được hưng thạnh và tồn tại đúng chân nghĩa của nó...

Thông báo: Khoá tu “Một Ngày Phước Huệ” mùng 07 tháng 10 năm Kỷ Hợi (2019) tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Thông báo: Khoá tu “Một Ngày Phước Huệ” mùng 07 tháng 10 năm Kỷ Hợi (2019) tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Trong Kinh Phổ Môn có dạy, nếu ai lâm nạn mà chí thành xưng danh hiệu cầu nguyện đức Quán Thế Âm Bồ Tát thì lửa không cháy, nước không trôi, quỷ không hại, xiềng xích không trói, tối tăm thành sáng suốt, thù oán thành thân cận. Với hạnh đại từ, đại bi của Bồ Tát Quán Thế Âm...

Suy nghĩ về hướng giáo dục đạo Phật cho tuổi trẻ

Suy nghĩ về hướng giáo dục đạo Phật cho tuổi trẻ

Tuổi trẻ học Phật không có mục đích trở thành nhà nghiên cứu Phật học, mà học Phật là tự thực tập khả năng tư duy bén nhạy, linh hoạt, để có thể nhìn thẳng vào vào bản chất sự sống. Cho nên, sự học Phật pháp không hề cản trở sự học thế gian pháp; kiến thức Phật học không xung dột với kiến thức thế tục. Duy chỉ có điều khác biệt, là học Phật khởi đi từ thực trạng đau khổ của nhân sinh để nhận thức đâu là hạnh phúc...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

3613633