Trang chính » Bài viết nổi bật »

Viên thông phong đại – Lưu Ly Quang Pháp vương tử

Tác giả : Diệu Minh-Ngọc Anh

ảnh minh họa, HL

Lưu Ly Quang Pháp vương tử[1] là một trong những vị thánh giả đã tu tập chứng quả. Ngài là vị Bồ tát đại diện cho căn cơ được chứng ngộ viên thông từ phong đại. Quá trình tu chứng của ngài là các bài học trải nghiệm tuyệt vời cho Phật tử trong quá trình tu tập:

(1) Như nhiều vị Bồ tát, Thinh văn tu chứng khác, ngài có bộ nhớ tuyệt vời đến hằng sa kiếp về trước, được đức Phật Vô Lượng Thanh khai thị về “tính bản giác diệu minh”, về sự giác ngộ vi diệu và sáng suốt là bản chất của tất cả. Đây là sự nhắc nhở, xuyên suốt để tu tập trở về với “tính bản giác diệu minh” này. Lâu nay, chúng ta quên gốc mà sống với ngọn, thành ra phải làm kiếp chúng sinh trôi lăn trong sinh tử luân hồi, còn các ngài khai thị, nhận ra và trở về sống với “bản giác diệu minh”, trở thành bậc thánh.

Đức Phật dạy ngài “quán sát thế giới này và thân chúng sinh đều là do sức lay động của nhân duyên hư vọng mà sinh ra”. Quán sát thế giới và thân chúng sinh, như đại vũ trụ và tiểu vũ trụ như thế nào? Tất cả đều là “do sức lay động của nhân duyên”; mà lay động là phải có “gió” (phong).

Quán sát thế giới, ví như, nhìn trên mặt nước, gió thổi làm nước lay động. Chúng ta thường nghĩ nước lay động bởi vì có gió (hay sóng biển dâng cao vì có bão tố, không có bão tố thì không có sóng biển,…). Nhưng gió từ đâu? – Từ sự vận hành của vũ trụ, của khí quyển; sự vận hành của khí quyển bắt đầu từ đâu? – Từ mặt trời, mặt trăng (bên nóng, bên lạnh), sự di chuyển của mặt trời, mặt trăng làm các luồng khí quyển di chuyển; mặt trời, mặt trăng do đâu mà có? – Tất cả là do “tính bản giác diệu minh” của chính bản thân mình hiện ra.

Lâu nay, chúng ta thường có thói quen xem xét, nhìn sự vât hiện tượng từ một nguyên nhân. Từ kinh nghiệm quát sát này mới thấy cần phải tu tập để bỏ thói quen này (bỏ loại nghiệp này), để có thói quen nhìn từ nhiều nguyên nhân, để tìm ra được các nguyên nhân sâu sa. Đây là tiền đề cho chứng quả, nó giúp chúng ta có sự thông suốt, đồng thời hạn chế được các sai lầm mắc phải trong cuộc sống. Bất cứ hiện tượng nào cũng không phải do một nguyên nhân, thậm chí là vấn đề do một người gây ra, thì cũng có các tương tác khác nhau trong chính bản thân người đó. Do vậy, chúng ta nên thận trọng, đừng vội vàng phán đoán cái gì mang tính đơn lẻ, chủ quan.

Quán chiếu thân chúng sinh, ví như thân mình, thì tâm nghiệp của mình cũng dựa trên phong đại. Khi hít – thở thì trong máu tạo ra nguyên khí từ cuống tim tới đan điền, rồi chi phối khắp cơ thể. Nếu nguyên khí này bị hư thì chạy loạn xạ, tạo huyết áp, máu lên. Nhưng máu lên từ đâu? – từ phong đại; phong đại ảnh hưởng từ cái gì? – từ hơi thở. Rõ ràng có thể thấy người bị huyết áp là người không chịu điều hòa hơi thở; người hay nổi giận thì huyết áp tăng (nổi giận làm phong đại nổi lên). Huyết áp không phải từ máu mà từ gió, gió thổi nên máu chạy. Điều phục được gió là điều phục hơi thở; gió bình thường thì máu bình thường, huyết áp bình thường.

Máu chạy trong các vi mạch trong não, chạy tới vùng cảm giác thần kinh, tiếp xúc trong 90 giây, nên ký ức lưu giữ trong 90 giây. Từ đó có thể thấy, không có niềm vui liên tục, cũng không có nỗi buồn đứng yên một chỗ. Dựa trên hệ thần kinh não bộ, máu chạy, nên các loại cảm thọ trong tâm chúng ta dựa trên hệ thống này. Phong đại (máu chạy) làm các dòng tư duy, buồn vui sướng khổ,… không tồn tại lâu mà tất yếu sẽ chuyển sang trạng thái khác. Nếu còn tiếp tục tồn tại ý nghĩ buồn khổ, chán nản này thì chuyện gì xảy ra, có thể sẽ dẫn đến bị loét dạ dày. Đây chính là sự bảo toàn của cơ thể. Loét dạ dày là tướng, lo nghĩ là tâm. Lo nghĩ tác động trực tiếp đến não bộ, lo nghĩ nữa thì loét nữa, do vậy sẽ phải chuyển sang mối bận tâm khác. Đây là cơ chế quân bình của cơ thể (Có bệnh cũng là yếu tố may mắn, giúp chúng ta tập trung quán chiếu tìm nguyên nhân!).

Sự vận hành trong thân là nhờ gió. Thân mình và thân chúng sinh cũng vậy, cũng bị lay động; rộng ra cả thế giới này, quả địa cầu này thì muôn loài chúng sinh đều như vậy, đều nhờ sự lay động của gió. Sự vận động của nhân sinh quan, vũ trụ quan dựa vào gió – động. Trong sự vận động đó, cái này tác động vào cái kia, cái kia tác động vào cái này. Chính là nhân duyên tác động lẫn nhau, suy cho cùng, từng nhân duyên, hay từng hạt bụi nhỏ cũng không có thể tánh. Quả địa cầu này hình thành từ các hạt bụi, các sự lay động, vận hành đều chỉ là nhân duyên hư vọng. Người học Phật phải mở rộng tầm nhìn.

(2) Theo lời đức Phật dạy, ngài “quán sát sự an lập của thế giới, quán sát sự thiên lưu của thời gian, quán thân khi động khi yên, quán tâm khi khởi, khi diệt”.

Từ quán thế giới và thân chúng sinh lay động nhờ gì? thế giới được an lập và hình thành qua thời gian (quá khứ, hiện tại và tương lai) như thế nào? tiếp đến là quán thân khi động, khi tĩnh; quán tâm khi khởi, khi diệt. Quán sát được những lời dạy này của đức Phật không hề đơn giản, cần phải có thời gian để trải nghiệm, tư duy và quán chiếu sâu sắc. Ngay khi niệm tưởng sinh ra thì trong tâm đã tạo ra sự lay động của gió. Ví như ngay khi khởi ý nghĩ xây ngôi nhà, đã tạo lực lay động trong tâm (đưa đến sự quyết định: tìm thợ, kiếm vật tư,…); nếu tâm không tự chế ngự dừng lại được thì khi xây xong nhà, gió sẽ thành bão (ngã mạn, ỷ lại, phè phỡn ăn chơi,…, rồi thất bại). Nếu trong tâm có nhiều niệm tưởng thì thành bão, tâm sinh ra thất điên bát đảo. Cho nên ngồi thiền cho tâm lắng dịu, thì hành động chuẩn mực sinh ra, đã là việc làm phước đức vô cùng!

(3) Qua quán sát, ngài nhận thấy (đã chứng được):

“Các tính động đều bình đẳng như nhau”, bình đẳng không có sai biệt, hình dáng có thể khác, nhưng sự lay động như vậy, không khác.

“Các tính lay động ấy, đến không do đâu, đi chẳng về đâu”. Chúng ta đều nghĩ có sự chuyển rời, nhưng nếu ra khỏi bầu khí quyển thấy mọi sự dịch chuyển trong đó, ra ngoài tam thiên, đại thiên thế giới thì sự lay động cũng trong đó mà thôi.

“Mười phương chúng sinh điên đảo nhiều như số vi trần đều đồng một tính hư vọng”. Chúng sinh nhiều quá, nhiều như số vi trần, tuy hình dạng có sai khác nhưng lại đồng một thể tánh hư vọng. “Như thế cho đến hết thảy chúng sinh trong một tam thiên, đại thiên thế giới (tất cả chúng sinh trong mười phương, trong một tỷ thái dương hệ), cũng như hàng trăm con muỗi mòng có trong đồ chứa, kêu vo ve âm ĩ, ở trong gang tấc, ồn ào rối rít”. Ngài mô tả thật vui, để thấy được sự mê mờ của chúng sinh. Hết thảy chúng sinh như hàng trăm loài muỗi, nhỏ bé, chật hẹp trong gang tấc; thế giới nhỏ bé như cái chum, còn chúng sinh thì ồn ào, rối rít. Con người cũng vậy, nếu nhìn từ trên cao xuống, cũng chạy ngược xuôi như đàn kiến (ngược xuôi cũng chỉ để kiếm tiền, kiếm danh, kiếm ăn uống, kiếm hưởng thụ ái dục, kiếm chỗ ngủ nghỉ. Suốt đời, suốt kiếp, chạy ngược, chạy xuôi cũng chỉ để kiếm ngũ dục mà thôi!). Vậy mà khi gặp nghịch duyên trong cuộc sống, chúng ta rất dễ chán nản, rất dễ buồn bực, rất dễ nổi tham sân si,… Quán chiếu sâu sắc chỗ này thì thấy rằng, chán nản, buồn bực, sân si,… cũng chỉ là vớ vẩn; từ đó mới có được sự an lạc; có an lạc thì từ bi sinh ra, tâm được phát triển vô biên, hiểu biết, trí tuệ khai mở.

Ngài “gặp Phật chưa bao lâu, liền được vô sinh pháp nhẫn”, “tâm khai ngộ” thì đôi mắt thiên nhãn mở ra, “thấy được cõi Phật bất động ở phương Đông”, “thành vị pháp vương tử, thừa sự mười phương Phật, thân tâm phát ra ánh sáng trong suốt không ngăn ngại”. Ở đây, “thừa sự mười phương Phật” là công hạnh tự tại của các vị đại Bồ tát. Chúng ta thực tập công hạnh này trong cuộc sống như thế nào để góp phần chuyển bánh xe pháp, để tự mình thắp sáng con đường tu tập cho chính mình. Trước hết phải gạn bỏ được các tập khí xấu, không bỏ được ngay thì cũng phải trăn trở, cầu thầy học đạo để bỏ các tập khí xấu này; tự chiến thắng chính bản thân mình để vừa hoàn thiện nhân cách, vừa góp nhặt, cứu giúp chúng sinh; chuyên tâm công phu thiền định hàng đêm, ngày làm việc nhưng không tham đắm, tự tại giữa khen chê, thành bại.

Tóm lại, qua “quán sát sức lay động của gió” “vốn không nương vào đâu”  nên ngài Lưu Ly Quang pháp vương tử “ngộ ra tâm bồ đề, thể nhập vào chánh định, hợp với diệu tâm của chư Phật trong mười phương đã truyền dạy”.

——

Chú thích:

[1] “Lưu ly” là ngọc quý màu xanh, “pháp vương tử” là danh hiệu gọi cho một vị Bồ tát.

Если Вы с любовью будете раскручивать свой сайт, он непременно будет популярен, Где заказывать контент?, Передача по ссылке Вы можете передать переменную в функцию по ссылке, и функция сможет модифицировать свои аргументы


Các bài viết khác

Tổ sư Nguyên Thiều với hành trạng và kệ thi tịch

Tổ sư Nguyên Thiều với hành trạng và kệ thi tịch

Năm Đinh Tỵ, tức năm 1677, Tổ sư đã đi theo thuyền buôn đến phủ Quy Ninh Đại Việt, tức là Quy Nhơn – Bình Định ngày nay, lập chùa Di Đà Thập Tháp truyền bá Phật pháp tại vùng này. Sau đó Tổ ra Phú Xuân lập chùa Vĩnh Ân và xây dựng tháp Phổ Đồng, tức là Tổ đình Quốc Ân ở Huế ngày nay, để tuyên dương Phật pháp và tháp Phổ Đồng do ngài xây dựng...

Người nhiếp thọ chánh pháp qua Kinh Thắng Man

Người nhiếp thọ chánh pháp qua Kinh Thắng Man

Bất cứ lúc nào cũng như ở đâu Nhiếp thọ chánh pháp và con người Nhiếp thọ chánh pháp đan xen vào nhau, tạo thành một thực thể sống động bất khả phân, thì ở đó và lúc đó chánh pháp được hưng thạnh và tồn tại đúng chân nghĩa của nó...

Thông báo: Khoá tu “Một Ngày Phước Huệ” mùng 07 tháng 10 năm Kỷ Hợi (2019) tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Thông báo: Khoá tu “Một Ngày Phước Huệ” mùng 07 tháng 10 năm Kỷ Hợi (2019) tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định

Trong Kinh Phổ Môn có dạy, nếu ai lâm nạn mà chí thành xưng danh hiệu cầu nguyện đức Quán Thế Âm Bồ Tát thì lửa không cháy, nước không trôi, quỷ không hại, xiềng xích không trói, tối tăm thành sáng suốt, thù oán thành thân cận. Với hạnh đại từ, đại bi của Bồ Tát Quán Thế Âm...

Suy nghĩ về hướng giáo dục đạo Phật cho tuổi trẻ

Suy nghĩ về hướng giáo dục đạo Phật cho tuổi trẻ

Tuổi trẻ học Phật không có mục đích trở thành nhà nghiên cứu Phật học, mà học Phật là tự thực tập khả năng tư duy bén nhạy, linh hoạt, để có thể nhìn thẳng vào vào bản chất sự sống. Cho nên, sự học Phật pháp không hề cản trở sự học thế gian pháp; kiến thức Phật học không xung dột với kiến thức thế tục. Duy chỉ có điều khác biệt, là học Phật khởi đi từ thực trạng đau khổ của nhân sinh để nhận thức đâu là hạnh phúc...

Đức Phật dạy về Bố thí

Đức Phật dạy về Bố thí

Do vị ấy bố thí không làm tổn thương mình và người khác, bất cứ nơi nào quả của việc bố thí ấy chín muồi, vị ấy sẽ được giàu có, sung mãn, đại phú, vị ấy sẽ không bị mất mát tài sản bất cứ lý do gì, dù là do lửa cháy, lụt lội, bị vua tịch thu, trộm cướp hay do những người thừa kế bị ghét bỏ chiếm đoạt...

Video

Video Clip

Chân dung Tăng già

  • TT. Thích Viên Hoa (1963-2009) - Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • Nguyễn triều Quốc sư húy Chơn Luận - Phước Huệ (1869-1945), Tổ khai sơn Chùa Phước Long - thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
  • HT. Thích Mật Hạnh (1923-2015) - Chùa Tân An, Bình Định
  • HT. Thích Quảng Bửu (1944-2016) - Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Viên Tánh (1958-2018) - Chùa Tây Thiên, Tp. Nha Trang
  • TT. Thích Huyền Châu - Giám viện Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc, Hoa Kỳ
  • HT. Thích Quảng Thạc (1925-1996), Chùa An Lạc, Sài gòn
  • HT. Thích Tâm Hoàn (1924-1981), Tổ đình Long Khánh, Qui Nhơn
  • HT. Thích Trí Hải (1876-1950), Chùa Bích Liên, Bình Định
  • Tổ sư Nguyên Thiều - Siêu Bạch (1648-1729), Khai sơn Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Làng mai, Pháp quốc
  • HT. Thích Thiện Minh (1922-1978), Thiền viện Quảng Đức, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hoa (1918-1973), Việt Nam Quốc Tự, Sài gòn
  • HT. Thích Thiện Hòa (1907-1978), Chùa Ấn Quang, Sài gòn
  • Bồ tát Thích Quảng Đức (1897-11 tháng 6 năm 1963) Vị pháp thiêu thân
  • HT. Thích Tịnh Khiết (1890-1973), Chùa Tường Vân, Huế
  • HT. Thích Phước Thành (1918-2013), Chùa Thiên Phước, Bình Định
  • HT. Thích Giác Nhiên (1878-1979), Chùa Thuyền Tôn, Huế
  • HT. Thích Đỗng Minh (1927-2005), Chùa Long Sơn, Nha Trang
  • HT. Thích Hành Trụ (1904-1984), Sài gòn
  • HT. Thích Viên Định, Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Huệ Chiếu (1898-1965) , Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Hải (1906-1979) - Hà Nội
  • HT. Thích Đôn Hậu (1905-1992), Chùa Thiên Mụ, Huế
  • HT. Thích Huyền Quang (1920-2008), Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định
  • HT. Thích Kế Châu (1922-1996), Tổ đình Thập Tháp, Bình Định
  • HT. Thích Trí Diệu (1916-1982), Chùa Phước Long, Bình Định
  • Hoa sen tánh giác

Câu chuyện bỏ túi

Phật thành đạo

Phật thành đạo

Hãy giải thoát cho nhau thoát khỏi những ràng buộc của tham sân si, cố chấp và tà kiến; hãy mở ra cho nhau những buộc ràng vô lối, những qui ước phàm tục và hãy hiến tặng cho nhau những tự do căn bản và tối thiểu của tâm hồn...

xem các tin khác

Reference Material

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Royal patronage of Buddhism during the time of Buddha

Active patronage from different royal houses was a major contributing factor to the growth of Sangha, its missionary activities and successful spread of Buddhism. Admiration for Buddha was obvious when kings and rulers made their claims on his relics after his demise...

xem các tin khác

Góp nhặt lời vàng

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Lời vàng của Tổ Qui Sơn

Nếu mình chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác thì hãy để tâm nơi giáo pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra nghĩa lý tinh hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai, đó là cách trả ơn cho Phật tổ...

xem các tin khác

Ẩm thực Phật giáo

Chè trôi nước ngũ sắc

Chè trôi nước ngũ sắc

Đậu xanh ngâm nước vài tiếng cho nở mềm. Sau đó đãi sạch rồi cho vào nồi, đổ nước sâm sấp mặt đậu. Cho nồi đậu lên bếp, đun nhỏ lửa cho đậu chín bở và cạn hết nước...

xem các tin khác

Lượt truy cập

3539953